chương 1, tác giả đã trình bày lý do của việc thực hiện đề tài và xác định được mục tiêu của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Chi cục Thuế khu vực IV quản lý, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chương này cũng cho biết phạm vi của nghiên cứu giới hạn tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng do Chi cục Thuế khu vực IV quản lý thuộc địa bàn 02 huyện của tỉnh Hậu Giang là huyện Châu Thành và huyện Châu Thành A. Đồng thời, cũng cho biết phạm vi thời gian của đề tài được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2020 và số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập thông qua bảng khảo sát trong khoảng thời gian từ tháng 8/2021 đến tháng 9/2021. Cuối cùng là giới thiệu tổng quát kết cấu nội dung của bài nghiên cứu này gồm 05 chương.
6 CHƯƠNG 2 CƠ Ở Ý THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 có qui định rõ: doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Quá trình kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ ra thị trường nhằm mục đích sinh lợi, mặc dù thực tế có một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, doanh nghiệp có thể được hiểu là một trong những chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội, được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, là nơi sử dụng nguyên liệu đầu vào để sản xuất sản phẩm cung ứng ra thị trường.
Các doanh nghiệp luôn thực hiện chức năng chính của mình, đó là sản xuất và kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu cơ bản đó là tối đa hóa lợi nhuận trong quá trình kinh doanh. Tất cả phải được thực hiện và tạo thành chu trình khép kín trong hoạt động thường nhật của doanh nghiệp. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với quá trình hoạt động của DN, có thể xét trên nhiều góc độ khác nhau, chẳng hạn như xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng. “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn,…) để đạt được mục tiêu xác định” (GS.
Ngô Đình Giao), nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, là hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, khi chỉ 7 tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có sự biến động do chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu gây ra thì độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Hiệu quả kinh doanh thể hiện sự tương quan giữa kết quả đầu ra với các nguồn lực đầu vào sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để đạt hiệu quả kinh doanh cao, doanh nghiệp cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình.
Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng Khái niệm về doanh nghiệp xây dựng: Có nhiều cách hiểu về doanh nghiệp. theo quy định của Luật Doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Học viện tài chính): “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục tiêu sinh lời”.
Theo quan niệm của Viện thống kê Pháp thì: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế và chức năng chủ yếu của nó là sản xuất ra các của cải vật chất hoặc dịch vụ dùng để bán. Dựa trên khái niệm về doanh nghiệp, Phan Hồng Mai (2012) đưa ra khái niệm về doanh nghiệp xây dựng: “Doanh nghiệp xây dựng là tổ chức kinh tế, hoạt động trong ngành xây dựng với những mục đích nhất định, thỏa mãn điều kiện của doanh nghiệp (căn cứ vào luật phát của từng quốc gia như có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật)”. Hiện nay, đáp ứng yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp thường hoạt động theo hướng đa ngành nghề, đăng ký kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy cần có một tiêu chí để xác định phân ngành cụ thể của doanh nghiệp.
Từ các khái niệm về doanh nghiệp, trong phạm vi đề tài này tập trung nghiên cứu về các doanh nghiệp xây dựng,tác giả khái niệm doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động xây dựng chiếm tỷ trọng chủ đạo trong tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp, tức là doanh thu từ hoạt động xây dựng chiếm tỷ trọng trên 50% tổng doanh thu thuần của doanh nghiệp. 8 Đặc điểm của các doanh nghiệp xây dựng: - Thường sử dụng một lượng lớn lao động: Các doanh nghiệp xây dựng có đặc điểm là sử dụng một lượng lớn lao động, trong đó có lao động thủ công. Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng có đặc thù là có nhiều rủi ro với người lao động, do đó, công tác đảm bảo an toàn lao động cần được đặt biệt coi trọng. - Địa điểm thi công thường bị phân tán, do đó, thiết bị và con người có thể phải điều động giữa các địa điểm thi công dẫn đến gia tăng chi phí vận chuyển.
Do đó, việc sắp xếp bố trí nguồn nhân lực và thiết bị thi công hợp lý trong hoạt động xây dựng đóng vai trò lớn trong việc tiết giảm giá thành các công trình xây dựng. - Thời gian của vòng quay vốn thường dài: Việc thi công các công trình xây dựng thường diễn ra trong thời gian dài, bên cạnh đó, sau khi công trình đưa vào sử dụng thì một phần giá trị hợp đồng vẫn chưa được thanh toán khi chưa đến hết thời hạn bảo hành công trình. Chính vì vậy, thời gian thu hồi vốn của doanh nghiệp xây dựng thường dài và đòi hỏi phải quản lý tốt công tác thu hồi công nợ.2 Tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là dựa vào qui mô sản xuất của doanh nghiệp. Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa: Phân theo tiêu chí định tính: được xây dựng trên các đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý thấp, mức độ phức tạp quản lý thấp,…Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế.
Do đó, nhóm tiêu chí này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp. Phân loại theo tiêu chí định lượng: được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như: số lao động, tổng nguồn vốn, tổng doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc xác định theo tiêu chí này nhằm góp phần phản ánh hoạt động của doanh nghiệp, phù hợp với nền kinh tế có lực lượng lao động dồi dào. Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ngoài ra, việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Như trong lĩnh vực nông nghiệp cần nhiều lao động hơn những ngành nghề về dịch vụ, khoa học công nghệ. Ngược lại, những doanh nghiệp kinh doanh về khoa 9 học công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn hơn và đồng thời doanh thu mang lại cũng cao hơn. Do đó, Luật giao cho Chính phủ quy định về việc xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa theo từng lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.
Quy định này đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách linh hoạt, nhằm hỗ trợ tối đa cho những đối tượng đáp ứng điều kiện để họ đầu tư sản xuất, kinh doanh và tiếp tục mở rộng quy mô kinh doanh. Dựa theo qui mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, việc xác định các tiêu chí để đánh giá qui mô của một doanh nghiệp nhỏ và vừa có sự khác biệt ở các quốc gia trên Thế giới. Trên thực tế, các tiêu chí này thường thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó.
Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động, tổng vốn đầu tư, tổng doanh thu của doanh nghiệp.