Chương 1: Giới thiệu: Chương này giới thiệu ngắn gọn về lý do hình thành đề tài, mục tiêu, ý nghĩa, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chương 2. Cơ sở lý thuyết: Chương này giới thiệu các khái niệm và cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu có liên quan, sau đó hình thành và đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng. Ngoài ra, chương này còn giới thiệu tổng quan về Cục Hải quan Tp.
Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày phương pháp và các bước cụ thể đã thực hiện trong nghiên cứu nhằm đạt mục tiêu đề ra. Kết quả nghiên cứu: Chương này trình bày và thảo luận về các kết quả phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị: Chương này trả lời các câu hỏi chính của đề tài đã đặt ra. Đồng thời nêu lên một số hạn chế trong quá trình thực hiện đề tài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này sẽ trình bày những khái niệm và lý thuyết liên quan đến công tác quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu, tổng quan các nghiên cứu về công tác quản lý thuế nhập khẩu – xuất khẩu. Từ đó, xác định mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết nghiên cứu.1 Thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường bộ hay đường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới đường bộ) thì các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải quan đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã quy định trước. Về mặt nguyên tắc, thuế nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để nhà nhập khẩu có thể đưa mặt hàng nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên đây có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế nhập khẩu là khá nhỏ.2 Thuế xuất khẩu Thuế xuất khẩu là loại thế đánh vào những mặt hàng mà Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu.
Nhằm bình ổn giá một số mặt hàng trong nước, hoặc có thể nhằm bảo vệ nguồn cung trong nước của một số mặt hàng, hoặc có thể nhằm hạn chế xuất khẩu để giảm xung đột thương mại với nước khác, hoặc có thể nhằm nâng giá mặt hàng nào đó trên thị trường quốc tế (đối với nước chiếm tỷ trọng chi phối trong sản xuất mặt hàng đó) việc hạn chế xuất khẩu có thể được Nhà nước cân nhắc. Trong các biện pháp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hạn chế xuất khẩu, thuế xuất khẩu là biện pháp tương đối dễ áp dụng. Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể sử dụng thuế xuất khẩu như một biện pháp để phân phối lại thu nhập, tăng thu ngân sách. Tính chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.
Căn cứ vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước mà thuế quan được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên, ở góc độ chung nhất có thể nhận thấy rằng tính chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Mục tiêu chung của các quốc gia là sử dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ðồng thời thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế dễ thu nhất, ít bị phản ứng từ phía trong nước, thậm chí có khi còn được sự ủng hộ của nhiều người.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng hoá, làm tăng giá hàng hoá, do đó có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; bởi vì lượng hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả hàng hoá cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường. Thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhà nước điều tiết việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Hơn nữa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc các loại hàng hoá không được khuyến khích sử dụng như thuốc lá, rượu, bia.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản xuất trong nước. Việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu. Ðặc biệt thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành còn non trẻ trong nước có thời gian trưởng thành và sinh lời để từ đó có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất nghiệp vì việc đánh thuế nhập khẩu cao thì hàng hoá nhập khẩu sẽ giảm; để bù vào lượng hàng hoá nhập khẩu đó nhà nước ta phải mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động từ đó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong nước.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ để nhà nước thực hiện chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại đối với các nước. Chẳng hạn Mỹ đòi EU phải giảm từ 30 - 50% trợ cấp cho nông nghiệp, nếu không Mỹ sẽ tăng mức thuế đánh vào hàng hoá nông sản của EU nhập khẩu vào thị trường Mỹ. - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngọai giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. - Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và nâng cao hiệu qủa hoạt động nhập khẩu - xuất khẩu trong cả nước.1 Các loại thuế liên quan đến nhập khẩu - xuất khẩu Để tạo nguồn thu, Chính phủ sử dụng nhiều công cụ như đặt ra lệ phí và phí, bán tài sản công, đầu tư vào công ty cổ phần và đánh thuế.
Trong đó, thuế là công cụ phổ biến và mang lại số thu lớn nhất. Có nhiều định nghĩa về thuế bởi các học giả và những tổ chức. Chẳng hạn, Gaston Jeze (1934) đã đưa ra khái niệm thuế là “Một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”. Luận văn này sử dụng định nghĩa của Tổ chức và hợp tác phát triển kinh tế (OECD), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) được trích dẫn trong tài liệu của Cơ quan Viện trợ Phát triển Hoa kỳ: Thuế là khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn của chính phủ1.
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung thuế là một khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho nhà nước theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước, điều tiết vĩ mô của nền kinh tế, phân phối lại thu nhập và của cải của xã hội, kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền kinh tế, thay đổi tập quán tiêu dùng của xã hội và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Một phần thuế mà các tổ chức và cá nhân đóng góp được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới các hình thức như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội,. Hệ thống thuế có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí như phân theo đối tượng đánh thuế hoặc phân theo phạm vi lãnh thổ. Theo đối tượng đánh thuế (tax object), hệ thống thuế được phân thành ba nhóm: nhóm thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ, nhóm thuế đánh vào thu nhập và nhóm thuế đánh vào tài sản.
Theo phạm vi lãnh thổ, hệ thống thuế được chia thành (1) thuế nội địa và (2) thuế liên quan đến các giao dịch qua biên giới, hay thuế ngoại thương. 1 “Taxes are the compulsory, unrequited payments to the general government sector”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Thuế nội địa là những sắc thuế liên quan đến các giao dịch bên trong biên giới lãnh thổ một quốc gia. Chúng bao gồm thuế hàng hóa, dịch vụ, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môi trường, và một số loại thuế đặc thù phù hợp điều kiện riêng mỗi đất nước.
Thuế ngoại thương là những sắc thuế liên quan đến giao dịch qua biên giới. Chủ đạo trong các sắc thuế ngoại thương là thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu (Duty Tax). Bên cạnh đó, tùy theo hoàn cảnh riêng ở từng đất nước, còn có những loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng (Value- Added Tax) hàng nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt (Excise Tax) hàng nhập khẩu. Theo tác giả, thuế nhập khẩu - xuất khẩu là một nhóm thuế hoặc một loại thuế được nộp bởi tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu - xuất khẩu thuộc đối tượng chịu thuế.
Thuế đối với hàng hóa nhập khẩu - xuất khẩu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính, thương mại vĩ mô tổng hợp gắn liền với hoạt động nhập khẩu-xuất khẩu, cơ chế quản lý nhập khẩu-xuất khẩu và chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia nhằm kiểm soát luân chuyển hàng hóa qua biên giới, bảo hộ sản xuất trong nước phù hợp với thông lệ hay cam kết quốc tế, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và quản lý hoạt động nhập khẩu-xuất khẩu.