Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này nêu lên những nét tổng quan về luận văn bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa, đóng góp của đề tài. Ngoài ra chương này cũng nêu rõ kết cấu, tóm tắt nội dung của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến dự phòng rủi ro tín dụng và nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng. Chương 2 sẽ nêu lên những cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
Đầu tiên, sẽ tìm hiểu về RRTD, Dự phòng RRTD và các nhân tố tác động đến dự phòng RRTD. Tiếp đó, luận văn tổng kết lại các nghiên cứu trước đây về dự phòng RRTD để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình, lựa chọn các biến cho chương sau. Cuối cùng là nêu lên khoảng trống nghiên cứu, những điểm mới mà luận văn thực hiện được. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Ở chương này, tác giả xây dựng biến cho mô hình nghiên cứu, đưa ra giả thuyết nghiên cứu, tổng quan lý thuyết về dữ liệu bảng và phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu này để đáp ứng những mục tiêu đề ra. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 4 là chương trọng tâm nhất của bài nghiên cứu. Với chương này, chúng ta sẽ biết được các nhân tố nào có mối quan hệ với dự phòng RRTD và mức độ tác động của từng nhân tố ra sao thông qua kết quả hồi quy mô hình. Cùng với đó, chương này cũng đưa ra bằng chứng về mối quan hệ giữa các nhân tốc với dự phòng RRTD thông qua phân tích thực trạng nền kinh tế, chính sách tiền tệ và tình hình hoạt động ngân hàng bằng những số liệu thực tế nghiên cứu.
Thực hiện thống kê mô tả các biến, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình, kết quả ước lượng mô hình, kiểm định các khuyết tật và sự phù hợp của mô hình để đưa ra mô hình tối ưu, phân tích mức độ tác động của các nhân tố đến dự phòng RRTD. 7 Chương 5: Khuyến nghị và kết luận Chương 5 sẽ đưa ra những đánh giá về kết quả nghiên cứu, những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời cũng đưa ra những khuyến nghị với các nhà quản trị ngân hàng trong việc sử dụng các nhân tố tác động để quản lý dự phòng RRTD nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. 8 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến dự phòng rủi ro tín dụng 2.1 Rủi ro tín dụng Theo Bessis (2015), rủi ro ngân hàng là những ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận ngân hàng từ những điều không chắc chắn.
Các rủi ro phổ biến đối với các tổ chức tài chính gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất và rủi ro quốc gia. Theo cách phân loại của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, rủi ro ngân hàng có thể được chia thành ba loại chính: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ phân tích rủi ro tín dụng, chi tiết sẽ được trình bày gồm các nội dung sau: khái niệm rủi ro tín dụng, phân loại rủi ro tín dụng, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Trong số tất các rủi ro của ngân hàng thì rủi ro tín dụng được xem là rủi ro chính yếu nhất, nó xuất phát từ vị trí quan trọng của tín dụng trong tổng tài sản của ngân hàng (Bùi Diệu Anh 2016). Vậy thì rủi ro tín dụng là gì? Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng.
Theo Jorion (2009) thì rủi ro tín dụng là tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng được ký kết giữa các bên liên quan. Còn theo Basel (2000), rủi ro tín dụng là “ khả năng một khách hàng vay hay một đối tác không đáp ứng các nghĩa vụ phù hợp với các điều khoản đã được thỏa thuận” Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. 9 Rủi ro giao dịch phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng và giám sát khoản vay. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như điều khoản các hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.3 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể xét ở góc độ từ phía khách hàng vay, từ phía ngân hàng và từ những nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng.
Như khả năng tự chủ tài chính kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ 10 quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay ngân hàng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay. Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ.
Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng. Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặc khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời. Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng.
Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ tầm và vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Nhóm nguyên nhân khách quan Là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. Từ đó, doanh nghiệp dù cho có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng. 11 Cần lưu ý rằng dù nguyên nhân từ phía khách hàng hay từ phía ngân hàng, nguyên nhân chủ quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ.
Tuy nhiên việc phân tích và phân định rõ ràng nguyên nhân sẽ giúp ngân hàng có biện pháp xử lý thích hợp trong từng tình huống cụ thể. Hậu quả của rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng quay của vốn tín dụng bị chậm lại làm ngân hàng kinh doanh không hiệu quả và có thể mất khả năng thanh khoản. Điều này làm giảm lòng tin của người gởi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng.