Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực fintech của sinh viên khoa tài chính ngân hàng trường đại học mở hà nội

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp fintech của sinh viên khoa tài chính ngân hàng tại Đại học Mở Hà Nội.

Trường đại học

Trường Đại học Mở Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết

2022

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp mới của nghiên cứu

1.7. Bố cục của nghiên cứu

2. CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Tổng quan về khởi nghiệp và khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech

2.1.1. Tổng quan về khởi nghiệp

2.1.2. Tổng quan về Fintech

2.1.3. Tổng quan về khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech

2.2. Các lý thuyết hành vi liên quan đến ý định khởi nghiệp

2.2.1. Thuyết hành động hợp lý (TRA)

2.2.2. Thuyết hành vi dự định (TPB)

2.2.3. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)

2.2.4. Lý thuyết các pha hành động (TAP)

2.2.5. Mô hình sự kiện khởi nghiệp (EEM)

2.3. Tổng quan nghiên cứu về ý định định khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech

2.3.1. Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam

2.3.2. Tổng quan các nghiên cứu tại các quốc gia trên thế giới

3. CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

3.3. Xây dựng thang đo nghiên cứu

3.4. Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu

3.5. Kích thước mẫu

3.6. Thu thập dữ liệu

3.7. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.7.1. Thống kê mô tả

3.7.2. Đánh giá sơ bộ độ tin cậy thang đo

3.7.3. Phân tích tương quan

3.7.4. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính OLS

3.7.5. Phân tích phương sai một yếu tố

4. CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả phân tích định lượng sơ bộ

4.1.1. Biến độc lập

4.1.2. Biến phụ thuộc

4.2. Kết quả phân tích định lượng chính thức

4.2.1. Thống kê mô tả

4.2.2. Độ tin cậy của thang đo

4.2.3. Tương quan Pearson

4.2.4. Hồi quy đa biến

4.2.5. Oneway Anova, T-Test

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

5.1. Định hướng của Nhà nước và Nhà trường

5.1.1. Định hướng của Nhà nước

5.1.2. Định hướng của Nhà trường

5.2. Giải pháp được đề xuất

5.2.1. Giải pháp cho Nhà trường và Khoa

5.2.2. Giải pháp cho các bạn sinh viên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp fintech

Khởi nghiệp trong lĩnh vực fintech đang trở thành xu hướng nổi bật, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ 4.0. Nghiên cứu này tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành tài chính ngân hàng. Các yếu tố như môi trường giáo dục, sự hỗ trợ từ chính phủ và các cơ hội trong ngành fintech sẽ được phân tích chi tiết.

1.1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu ý định khởi nghiệp fintech

Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp giúp hiểu rõ hơn về động lực và rào cản mà sinh viên gặp phải. Điều này không chỉ hỗ trợ sinh viên trong việc phát triển kỹ năng mà còn giúp các cơ sở giáo dục điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp.

1.2. Tình hình khởi nghiệp fintech tại Việt Nam

Việt Nam đang chứng kiến sự bùng nổ trong lĩnh vực fintech với số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tăng nhanh. Năm 2020, có 123 doanh nghiệp fintech, cho thấy tiềm năng lớn cho sinh viên trong ngành này.

II. Các thách thức trong việc khởi nghiệp fintech của sinh viên

Mặc dù có nhiều cơ hội, sinh viên vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc khởi nghiệp fintech. Những rủi ro trong khởi nghiệp và thiếu hụt kiến thức về công nghệ là những vấn đề chính cần được giải quyết.

2.1. Rủi ro trong khởi nghiệp fintech

Rủi ro tài chính và công nghệ là những yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Việc thiếu kinh nghiệm và kiến thức có thể dẫn đến thất bại trong các dự án khởi nghiệp.

2.2. Thiếu hụt kiến thức và kỹ năng

Nhiều sinh viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về mô hình kinh doanh fintech và các công nghệ mới. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trong thị trường khởi nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp định lượng và định tính để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Các mô hình lý thuyết như TRA và TPB sẽ được áp dụng.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thiết kế với bảng hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu từ sinh viên. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởngý định khởi nghiệp.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy 7 trên 8 biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Những phát hiện này có thể được áp dụng để cải thiện chương trình đào tạo và hỗ trợ sinh viên.

4.1. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

Các nhân tố như đặc điểm tính cách, chuẩn chủ quan, và môi trường giáo dục được xác định là có ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.

4.2. Đề xuất giải pháp cho sinh viên

Cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp cụ thể để nâng cao năng lực khởi nghiệp cho sinh viên, giúp họ tự tin hơn trong việc thực hiện ý tưởng khởi nghiệp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của khởi nghiệp fintech

Khởi nghiệp fintech có tiềm năng lớn tại Việt Nam, nhưng cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía để sinh viên có thể hiện thực hóa ý định khởi nghiệp của mình. Tương lai của lĩnh vực này phụ thuộc vào việc cải thiện môi trường pháp lý và giáo dục.

5.1. Tương lai của khởi nghiệp fintech tại Việt Nam

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, lĩnh vực fintech sẽ tiếp tục mở ra nhiều cơ hội cho sinh viên. Chính phủ và các tổ chức cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khởi nghiệp.

5.2. Vai trò của giáo dục trong khởi nghiệp

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức và kỹ năng cho sinh viên. Các chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với xu hướng thị trường.

15/07/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực fintech của sinh viên khoa tài chính ngân hàng trường đại học mở hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 giới thiệu những đóng góp về mặt lí luận của luận án về kiểm định và hoàn thiện mô hình nghiên cứu. Cuối cùng, những đóng góp về mặt thực tế góp phần vào nâng cao ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech của sinh viên Khoa Tài chính – Ngân hàng, trường Đại học Mở Hà Nội. 20 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về khởi nghiệp và khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech 2.

Tổng quan về khởi nghiệp Thuật ngữ “startup – khởi nghiệp” đã có từ rất lâu đời, có người cho rằng nó đã được truyền miệng từ những năm 1550 và được tạp chí Forbes sử dụng lần đầu vào năm 1976 và tạp chí Business Week vào năm 1977. Hiện nay tồn tại rất nhiều định nghĩa về khởi nghiệp. Các định nghĩa trước đó đã được tổng hợp và 3 tiêu chí chung xác định về khởi nghiệp đó là: “mới”, “hoạt động” và “độc lập” (Luger & Koo, 2005). Tổng hợp cả 3 tiêu chí này, một khởi nghiệp có thể được định nghĩa như sau: “Which did not exist before during a given time period (new), which starts hiring at least one paid employee during the given time period (active), and which is neither a subsidiary nor a branch of an existing firm (independent)”.

Dịch là: “Không tồn tại trước đây trong một khoảng thời gian nhất định (mới), bắt đầu thuê ít nhất một nhân viên được trả lương trong thời gian khoảng thời gian nhất định (hoạt động) và không phải là công ty con hoặc chi nhánh của một công ty hiện có (độc lập)”. Ries (2011) định nghĩa về khởi nghiệp như sau: A startup is “A human institution designed to create new products and services under conditions of extreme uncertainty”. Dịch là “Khởi nghiệp là một tổ chức con người được thiết kế để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”. Theo Shaw (2020), khi một doanh nhân khởi động một dự án kinh doanh để tìm kiếm sự phát triển và một mô hình có thể mở rộng hợp lệ, lập nghiệp có nghĩa là tự kinh doanh và một doanh nghiệp mới có thể chưa bao giờ có kế hoạch trở thành hợp pháp và được đăng ký, nhưng doanh nghiệp khởi nghiệp luôn hướng tới mục tiêu vươn xa hơn, trở nên lớn mạnh, và có nhiều người sáng lập hơn.

Một doanh nghiệp khởi nghiệp theo Shaw (2020) nên có những chức năng như: (1) Đưa ra ý tưởng, hình ảnh và tầm nhìn về sản phẩm với các đặc tính của sản phẩm; (2) Tạo và hình dung các mô hình kinh doanh khác nhau mà họ sẽ giải quyết như thế nào với khách hàng, nhà cung cấp, phân phối, tài chính của công ty; (3) Hiểu được điều đó để lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp với thị trường và khách hàng của mình. 21 Bên cạnh đó, theo Grant (2021), thuật ngữ startup dùng để chỉ một công ty đang trong giai đoạn hoạt động đầu tiên. Các công ty khởi nghiệp được thành lập bởi một hoặc nhiều doanh nhân muốn phát triển một sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ tin rằng có nhu cầu. Các công ty này thường bắt đầu với chi phí cao và doanh thu hạn chế, đó là lý do tại sao họ tìm kiếm vốn từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như các nhà đầu tư mạo hiểm.

Theo định nghĩa của Baldridge và Curry (2021) trên tạp chí Forbes thì các công ty khởi nghiệp là các công ty được thành lập để phát triển một sản phẩm hoặc dịch vụ độc đáo, đưa nó ra thị trường, làm cho nó trở nên hấp dẫn và không thể thay thế đối với khách hàng. Có thể thấy, mặc dù tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về khởi nghiệp; song hầu hết tất cả các định nghĩa đều mang đặc điểm chung đó là các công ty khởi nghiệp bắt nguồn từ sự đổi mới, giải quyết những khiếm khuyết của các sản phẩm hiện có hoặc tạo ra các chủng loại hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới, do đó phá vỡ cách suy nghĩ và kinh doanh cố định của toàn bộ ngành công nghiệp. Đó là lý do tại sao nhiều công ty khởi nghiệp được biết đến trong các ngành công nghiệp tương ứng của họ là “kẻ phá vỡ” (Baldridge và Curry, 2021). Nói đến các công ty khởi nghiệp, người ta thường nghĩ đến yếu tố đổi mới sáng tạo, điển hình như các công ty khởi nghiệp trong Big Tech như Meta (Tên cũ là Facebook), Amazon, Apple, Netflix, Google, được gọi chung là cổ phiếu FAANG.

Hiện này, khái niệm “Khởi nghiệp - startup” và “Lập nghiệp” vẫn còn bị đánh đồng là một bởi nhiều cá nhân và tổ chức. Lập nghiệp là gây dựng cơ nghiệp bằng việc thành lập một doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể giống với vô số những doanh nghiệp, hộ gia đình khác đã và đang làm cùng mô hình kinh doanh đó, chẳng hạn như mở nhà hàng ăn uống, cửa hàng cắt tóc, quán cà phê giải khát.Còn khởi nghiệp đòi hỏi phải có sự đổi mới và sáng tạo. Tính đột phát là đặc tính cơ bản của khởi nghiệp để tạo ra một điều gì đó chưa hề có hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang sẵn có trên thị trường, chẳng hạn như có thể tạo ra một phân khúc mới trong sản xuất, một mô hình kinh doanh mới, hoặc một loại công nghệ độc đáo mới…(Hecht, 2017; Kriss, 2020). Những khía cạnh khác nhau giữa khởi nghiệp và lập nghiệp cũng được Kriss (2020) chỉ rõ.

Đầu tiên và về mục tiêu tăng trưởng. Những người sáng lập công ty khởi nghiệp đang tìm cách tác động và phá vỡ thị trường hiện tại bằng ý tưởng kinh 22 doanh khởi nghiệp của họ - có nghĩa là họ không muốn duy trì một nhóm nhỏ, giới hạn mãi mãi. Thay vào đó, họ đang tìm cách phát triển nhanh chóng. Đây là lý do tại sao rất nhiều công ty khởi nghiệp được thành lập trong ngành công nghệ bởi công nghệ có phạm vi tiếp cận rộng, có thể mở rộng dễ dàng và có thể cấp vốn nhanh.

Thứ hai là về mục tiêu kinh doanh. Một lần nữa, một nhà sáng lập khởi nghiệp đang tìm cách phá vỡ thị trường bằng mô hình kinh doanh có khả năng mở rộng và tác động của họ, phát triển nhanh nhất có thể, đánh bại các đối thủ cạnh tranh. Mặt khác, với một chủ doanh nghiệp nhỏ, điều này không nhất thiết phải như vậy. Để điều hành một doanh nghiệp nhỏ, chủ doanh nghiệp không cần phải phá bỏ thị trường hoặc thâm nhập vào một thị trường hoàn toàn mới; thay vào đó, họ chỉ cần có mong muốn bắt đầu kinh doanh của riêng mình và tìm một thị trường mà bạn có thể tiếp cận một cách hiệu quả.

Miễn là họ có thể làm như vậy nếu kiếm được doanh thu. Chính vì vậy mà trong khi các công ty khởi nghiệp thường được thành lập trong ngành công nghệ, các doanh nghiệp nhỏ thường là những quán cà phê trong khu vực, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng sửa chữa ô tô, tiệm làm tóc…Khác biệt tiếp theo là từ huy động vốn. Mặc dù chắc chắn sẽ khó khăn hơn cho cả các công ty khởi nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ trong việc tìm kiếm nguồn vốn so với các doanh nghiệp đã thành lập nhiều năm và có tên tuổi, nhưng các công ty khởi nghiệp có nhiều khả năng chuyển sang và tìm kiếm thành công hơn với nguồn vốn cổ phần so với các doanh nghiệp nhỏ. Với tài trợ vốn cổ phần, các công ty khởi nghiệp có thể tìm kiếm các nhà đầu tư thiên thần hoặc các nhà đầu tư mạo hiểm, những người sẵn sàng cung cấp số vốn lớn để đổi lấy vốn cổ phần hoặc quyền sở hữu trong công ty.

Thông thường, những nhà đầu tư này đưa ra số vốn tối thiểu theo từng "vòng" và sau đó với mỗi đợt cấp vốn, startup sẽ từ bỏ vốn chủ sở hữu. Ngược lại, tài trợ vốn chủ sở hữu không có ý nghĩa đối với hầu hết các doanh nghiệp nhỏ. Hầu hết các chủ doanh nghiệp nhỏ không muốn từ bỏ quyền kiểm soát doanh nghiệp của họ. Bên cạnh đó hầu hết các nhà đầu tư thiên thần và nhà đầu tư mạo hiểm chỉ muốn làm việc với các công ty khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao đang phá vỡ ngành công nghiệp của họ (Hecht, 2017).

Tổng quan về Fintech Cũng giống như “Khởi nghiệp”, định nghĩa về Công nghệ tài chính - Fintech cũng có rất nhiều. Sau hơn 40 năm thuật ngữ này đã được sử dụng trong thực tế cũng như trong các nghiên cứu, không có sự thống nhất nào về thuật ngữ Fintech (Schueffel, 23 2016). Quá trình tạo ra một định nghĩa dùng chung cho các hiện tượng kinh doanh từ lâu đã được công nhận là một nhiệm vụ khó khăn (Daftand Wiginton, 1979). Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) định nghĩa Fintech là “đổi mới tài chính hỗ trợ công nghệ có thể tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình hoặc sản phẩm mới có tác động quan trọng liên quan đến thị trường và tổ chức tài chính cũng như việc cung cấp các dịch vụ tài chính”.

Định nghĩa này cũng đã được Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) thông qua, một phần vì “Định nghĩa rộng này được BCBS coi là hữu ích dựa trên tính lưu động của sự phát triển fintech hiện nay” (Basel Committee on Banking Supervision, 2018). Thakor (2020) định nghĩa về cốt lõi, Fintech là việc sử dụng công nghệ để cung cấp các dịch vụ tài chính mới và cải tiến. Một phần của động lực cho sự xuất hiện của Fintech là do trong khi công nghệ thông tin đã làm cho mọi thứ - từ máy tính đến ô tô - rẻ hơn và nhiều chức năng hơn, thì đơn giá của trung gian tài chính dường như không thay đổi nhiều trong hơn một thế kỷ qua. Thuật ngữ Fintech được Fintech Weekly (2021) định nghĩa là phần mềm và các công nghệ hiện đại khác được sử dụng bởi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính tự động và không cần thiết.

Những tiến bộ nhanh chóng và sáng tạo như Mobile Payments đã thay đổi cách chúng tôi quản lý tài chính của mình. Những khách hàng am hiểu về công nghệ, đặc biệt là thế hệ trẻ mong muốn việc chuyển tiền, cho vay, quản lý khoản vay và đầu tư trở nên dễ dàng, an toàn và có thể mở rộng, lý tưởng mà không cần sự hỗ trợ của một người hoặc sự ghé thăm của ngân hàng. Theo Muriuki (2021), công nghệ tài chính hoặc Fintech là một thuật ngữ phổ biến đã được sử dụng trong một khoảng thời gian.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ