chương 1, tác giả còn trình bày phương pháp nghiên cứu, những đóp góp của dé tài về mặt khoa học và thực tiễn và kết cau của dé tài, đó là cơ sở dé tìm hiéu, phân tích, thu thập tài liệu nghiên cứu các chương tiếp theo. 17 CHƯƠNG 2: CO SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN NGHIÊN CUU VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN Ý ĐỊNH DỰ THI CHUNG CHÍ KE TOÁN VIEN VA KIEM TOAN VIEN CPA VIET NAM TREN DIA BAN THANH PHO HA NOI 2. Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chi kế toán viên và kiểm toán viên CPA Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hà Nội 2. Thuyết hành động hợp lý TRA (Fishbein & Ajzen,1975) Thuyết hành động hợp lý TRA được Fishbein và Ajzen xây dựng năm 1975.
Thuyết hành động hợp lý TRA được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu dé xác định khuynh hướng hành vi của con người. Ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thai độ của cá nhân với hành vi, cùng sự ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó (Fishbein & Ajzen,1975). Trong đó, thái độ và chuân mực chủ quan là 2 nhân tố quan trọng trong mô hình lý thuyết hành động hop lý TRA: - Thái độ đối với hành vi: là một hình thức đánh giá hoặc phản ứng cảm giác của một người, là một cảm giác hỗ trợ hoặc thiên vị (thuận lợi) và cảm giác không ủng hộ hoặc không đứng về phía nào (bat lợi) lên các đối tượng này. Thái độ đối với hành vi là nhận thức của một cá nhân khi thực hiện một hành vi, một cảm giác tích cực hay tiêu cực sẽ xuất hiện và sẽ ảnh hưởng đến hành vi và cách họ cư xử.
- Chuan mực chủ quan là cơ sở quyết định thứ hai của ý định trong lý thuyết hành động hợp ly, các chuẩn mực chủ quan vẫn liên quan đến niềm tin, nhưng niềm tin vào chuẩn mực chủ quan là khác với niềm tin vào thái độ vì niềm tin vào chuẩn mực chủ quan là một đại diện nhận thức của những người quan trọng khác là một cá nhân hoặc theo một nhóm, những người đó ảnh hưởng đến việc cá nhân có ý định thực hiện hành vi hay không? Chuẩn mực chủ quan mô tả ảnh hưởng của đồng nghiệp và các thành viên trong gia đình về những gì được coi là thiết yếu, tạo điều kiện cho việc cá nhân thực hiện một hành vi cụ thé. Hay tiêu chuẩn niềm tin là một nhận thức về hành vi bi ảnh hưởng bởi những người quan trọng xung quanh các cá nhân như gia đình, bạn bè, hoặc tùy thuộc vào quy mô dân số và loại nghiên cứu (Puruhit, 2014). 18 Niém tin đối với kêt qua hành động Đánh giá kết quả hành động Niém tin vao quy chuân của những Tigười xung quan Chuẩn mực chủ quan Động lực đề tuân thủ theo ý muôn của những người xung quanh Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA, Fishbein & Ajzen (1975) Nguồn: Fishbein & Ajzen (1975) Trong mô hình này, thái độ của con người có thé đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của chứng chỉ CPA Việt Nam. Đầu tiên, đó là nhận thức về sự hữu ích, là khi một cá nhân cho rằng việc sử dụng công nghệ sẽ nâng cao hiệu suất, kết quả làm việc của họ (Legris, Ingham & Collerette, 2003), nếu cá nhân tin rằng chứng chỉ CPA Việt Nam sẽ đem lại sự hữu ích cho họ, các cá nhân sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc dự thi chứng chỉ kế toán viên và kiểm toán viên CPA Việt Nam.
Thứ hai, nhận thức tinh dé sử dụng là khả năng đối tượng đó tin rằng sử dụng các công nghệ, hệ thống chất lượng cao sẽ giúp công việc của các đối tượng trở lên dé dàng hơn va họ sẽ không phải cố gắng, nỗ lực quá nhiều (Davis, 1989). Những người muốn theo đuôi chứng chỉ CPA Việt Nam sẽ chú ý đến các lợi ích mà người đó cần hoặc đó là niềm tin rằng chứng chỉ CPA Việt Nam sẽ mang lại cho họ những lợi ích mà họ mong đợi. Dựa theo lý thuyết về hành động hợp lý TRA, niềm tin về lợi ích họ mong đợi sẽ ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ CPA Việt Nam. Niềm tin đó xuất phát từ mong đợi của họ về những gì họ sẽ nhận được nếu có chứng chỉ CPA Việt Nam.
Đã có rất nhiều nghiên 19 cứu áp dụng mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA và chỉ ra rằng thái độ, niềm tin ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi. (2015) nghiên cứu hiểu sự lựa chọn của sinh viên kế toán trong: Ung dung của lý thuyết hành động hợp lý đã chỉ ra rằng ý định của một cá nhân theo đuôi chuyên nganh/nghé nghiệp kế toán được xác định bởi hai thành phần chính: thái độ đối với kế toán và ảnh hưởng xã hội (chuẩn chủ quan nhận thức) và sở thích cá nhân được hình thành bởi nhận thức của một người về nghề kế toán và năng lực bản thân liên quan đến kế toán. Tuy nhiên, Ajzen (1991) đã kết luận răng TRA chỉ áp dụng cho hành vi nằm dưới kiểm soát hoàn toàn của cá nhân, nhưng không thích hợp dé giải thích hành vi không hoàn toàn dưới sự kiểm soát của cá nhân, bởi vì có những yếu tố ngăn can hoặc tạo điều kiện cho việc thực hiện của ý định thành hành vị. Trong khi trước đây đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội đã chứng minh rằng TRA là một lý thuyết đủ dé dự đoán hành VI.
Dé khắc phục nhược điểm nay Ajzen dé xuất thêm một yếu tố đó là “Nhận thức kiểm soát hành vi” và trở thành lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB). Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) khắc phục những điểm không chính xác trong Lý thuyết hành động hop ly thông qua nghiên cứu được thực hiện bởi Fishbein & AJzen (1975). Thuyết về hành vi có kế hoạch TPB (Fishbein & Ajzen,1991) Thuyết hành vi có kế hoạch hay TPB là sự phát triển của Thuyết hành động hợp lý (TRA). TRA được phát triển thành Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) bằng cách thêm nhận thức kiêm soát hành vi như một yếu tố quyết định của ý định của một người.
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) khắc phục những điểm không chính xác trong Lý thuyết hành động hợp lý thông qua nghiên cứu được thực hiện bởi Fishbein và Ajzen (1991). Theo Jogiyanto (2008), trong TPB, hành vi của một cá nhân được thực hiện bởi ý định hành vi. Học thuyết về Hành vi có kế hoạch (TPB) giải thích rằng hành vi của một người là không chỉ được kiểm soát bởi chính họ, mà còn kiểm soát sự sẵn có của các nguồn lực và cơ hội nhất định (nhận thức về kiểm soát hành vi) Ajzen, I. Nhận thức kiểm soát hành vi là một biến cấu trúc được bổ sung nhằm khắc phục những han chế ma cá nhân có trong việc thực hiện một hành vi.
Tuy nhiên, lĩnh hội kiểm soát hành vi là một yếu tố chưa có trong Lý thuyết về Hành vi có kế hoạch (TPB), nhận thức của 20 cá nhân về sự kiểm soát có thé được thực hiện, bắt nguồn từ niềm tin vào sự kiểm soát, cũng xác định liệu một hành vi có được thực hiện hay không ngoài việc được xác định bởi thái độ và chuẩn mực chủ quan. Nhận thức kiểm soát hành vi có hai tác động, là ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua ý định) đến hành vi Ajzen, I., 1988, theo Ajzen (1991), yếu tố nhận thức kiểm soát này xuất phát từ sự tự tin của cá nhân người dự định thực hiện hành vi và điều kiện dé dang và thuận lợi dé thực hiện hành vi. Nhận thức về kiêm soát hành vi có ý nghĩa quan trọng sự thay đổi trong hành vi thực tế. Đó là niềm tin rang một cá nhân có hoặc không bao giờ thực hiện một hành vi nhất định, cá nhân có phương tiện và thời gian để thực hiện hành vi, cá nhân dự định thực hiện hành vi có đầy đủ thông tin cần thiết cho quyết định của mình và sự quyết đoán của cá nhân người đó dự định thực hiện hành vi.
sau đó các cá nhân ước tính kha năng của mình có thể thực hiện hành vi đó, cho dù họ có hay không khả năng thực hiện hành vi đó. Ajzen đặt tên cho tình trang này là nhận thức kiểm soát hành vi. Thai độ déi voi hanh vi Nhận thức kiểm soát hành Hình 2.2: Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB, Fishbein & Ajzen (1991) Nguồn: Trang web Vietnambiz, 2020 (https://vietnambiz. vn/li-thuyet-hanh-vi-hoach-dinh-theory-of-planned- behavior-tpb-la-gi- htm) Jogiyanto (2007) giải thích rang ý định là sự san sang làm điều gi đó.
Trong khi đó, Sulistiani (2012) cho răng ý định có liên quan chặt chẽ đến động lực, sự thôi thúc của một cá nhân dé hành động một cách có ý thức hoặc vô thức với một mục đích cụ 21 thể; một ý định tốt sẽ khuyến khích động lực dé làm điều gì đó tốt. Theo Jogiyanto (2007), ý định thay đổi theo thời gian, vì vậy một khoảng thời gian dai hơn có nghĩa là cơ hội lớn hơn dé thay đôi ý định. TPB giải thích rằng một ý định có thé đến từ niềm tin của một cá nhân. Niềm tin hành vi lớn hơn, niềm tin chuẩn mực và niềm tin kiểm soát dẫn đến ý định lớn hơn để thực hiện một hành vi nhất định.
Lý thuyết đã ảnh hưởng đáng kể nghiên cứu liên quan đến ý định hình thành hành vi con người (Ajzen, 1991). Tại hội nghị Quốc tế về Nghiên cứu Kế toán 2014, ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch đến ý định dự thi chứng chỉ CPA tại Indonesia, Solikhah (2014) đã chỉ ra rằng các nhân tố là thái độ, chuân mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi (TPB) có anh hưởng tích cực với ý định dự thi CPA, kết quả này phù hợp với Thuyết hành vi có kế hoạch. TPB duy trì những hành động hướng dẫn động cơ đó, nhưng không phải tất cả các hành động đều được thực hiện, trong khi những hành động khác được điều chỉnh với những hoàn cảnh khác nhau (Myburgh, 2005). Do đó, TPB dường như là lý thuyết phù hợp nhất cho nghiên cứu này.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu của Vũ Phương Anh và cộng sự (2020) cũng kết hợp mô hình TRA va TPB dé xây dựng mô hình nghiên cứu về ý định dự thi chứng chỉ tiếng anh quốc tế.