Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống thu ngân sách nhà nước (NSNN), thuế là nguồn thu chủ yếu và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế trực thu có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động trực tiếp đến thu nhập của nhiều tầng lớp dân cư. Tại Việt Nam, Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 27/11/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. Ban đầu, cá nhân và hộ kinh doanh chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Đến ngày 22/11/2012, Quốc hội thông qua Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN, chính thức đưa cá nhân và hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh vào diện điều chỉnh của sắc thuế này.

Theo kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2021, cả nước có gần 5,2 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể vào năm 2022, tăng 5,7% so với năm 2016. Dù khu vực hộ kinh doanh đóng góp trung bình khoảng 30% GDP trong giai đoạn 2015–2019, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước chỉ đạt khoảng 1,6%. Đồng thời, số liệu quản lý thuế ghi nhận khoảng 711 hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thuộc diện không phải nộp thuế. Thực tế này phản ánh mức độ tuân thủ thuế tự nguyện của khu vực kinh tế cá thể còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ thất thu ngân sách.

Tỉnh Ninh Bình là địa bàn có tiềm năng du lịch phát triển mạnh với các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử như Cố đô Hoa Lư, Quần thể danh thắng Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Thung Nham, Hang Múa, Vườn quốc gia Cúc Phương, Chùa Bái Đính, Nhà thờ Phát Diệm. Đi kèm với sự tăng trưởng du lịch là sự gia tăng nhanh chóng của các hộ kinh doanh cá thể thuộc lĩnh vực dịch vụ lưu trú, nhà hàng, khách sạn, homestay. Bên cạnh đó, địa phương còn duy trì nhiều làng nghề truyền thống hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể như làng nghề cói Kim Sơn, thêu ren Văn Lâm, mộc Phúc Lộc, gốm Bồ Bát, chạm khắc đá Ninh Vân. Hoạt động quản lý và thu thuế TNCN đối với hộ kinh doanh cá thể tại đây gặp nhiều phức tạp hơn đáng kể so với việc quản lý thuế từ nguồn tiền lương, tiền công. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng thể: Xác định ảnh hưởng của các nhân tố dẫn tới quyết định tuân thủ thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao mức độ tuân thủ thuế.
  2. Các mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế TNCN, hành vi tuân thủ thuế và đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp;
    • Phân tích, đánh giá thực trạng tuân thủ thuế TNCN của các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;
    • Khảo sát thực tế các hộ kinh doanh cá thể tại Ninh Bình và sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định, lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định tuân thủ thuế;
    • Thảo luận kết quả phân tích và đề xuất kiến nghị đối với Tổng cục Thuế và Cục Thuế tỉnh Ninh Bình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể tại tỉnh Ninh Bình.
  • Đối tượng khảo sát: Các hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quyết định tuân thủ thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể; không đi sâu vào các nguồn thu nhập chịu thuế TNCN khác hoặc các sắc thuế khác như thuế giá trị gia tăng (GTGT), lệ phí môn bài.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập từ ngày 15/03/2023 đến ngày 15/04/2023; quá trình xử lý mô hình và phân tích số liệu hoàn thành vào ngày 19/05/2023. Các dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2018–2022 và quý I/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết hành vi kinh tế và tâm lý - xã hội học:

  • Lý thuyết răn đe kinh tế và Mô hình Allingham - Sandmo (1972): Giả định người nộp thuế ra quyết định khai báo thu nhập $D$ dựa trên hàm số $D = f(I, p, f, t)$, trong đó $I$ là thu nhập thực tế, $p$ là xác suất bị kiểm tra phát hiện, $f$ là mức xử phạt và $t$ là thuế suất. Mô hình này được Alm, Jackson và McKee (1992) mở rộng bổ sung biến số chi tiêu công $G$ ($D = f(I, p, f, t, G)$), chỉ ra rằng sự tuân thủ tỷ lệ thuận với lợi ích nhận được từ hàng hóa công.
  • Lý thuyết tâm lý học tài chính (Schmölders, 1959; Torgler và cộng sự, 2008): Phân tích động cơ nộp thuế dựa trên sự tương tác giữa người dân và chính quyền. Mức độ tuân thủ gia tăng khi người nộp thuế nhận thấy các dịch vụ công được cung cấp đầy đủ và công bằng. Niềm tin vào cơ quan thuế và hệ thống thuế là yếu tố thúc đẩy ý định tuân thủ thuế.
  • Lý thuyết thể chế (North, 1990; Scott, 2013): Giải thích hành vi của hộ kinh doanh cá thể chịu sự chi phối bởi hệ thống pháp luật, năng lực thực thi của cơ quan quản lý nhà nước và các chuẩn mực văn hóa, xã hội tại môi trường hoạt động.
  • Lý thuyết công bằng (Tyler, 1990; McKerchar và Evans, 2009; OECD, 2010): Phân loại tính công bằng của hệ thống thuế theo ba phương diện: công bằng phân phối (chính phủ sử dụng tiền thuế hiệu quả), công bằng thủ tục (cơ quan thuế thực thi đúng quy trình, đối xử bình đẳng) và công bằng xử phạt/ưu đãi (chế tài vi phạm minh bạch, nhất quán).
  • Lý thuyết tâm lý xã hội (Mohdali, 2010; Fjeldstad và cộng sự, 2012): Tiếp cận hành vi nộp thuế qua ba chiều kích: chuẩn mực xã hội từ môi trường xung quanh, nhận thức về sự công bằng tương đối giữa các cá nhân trong xã hội, và mức độ tin tưởng vào thể chế chính trị.
  • Thuyết hành động hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1975) và Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen, 1991): Giải thích hành vi tuân thủ thuế bắt nguồn từ ý định hành vi, chịu sự chi phối của ba yếu tố: Thái độ đối với hành vi (gắn với tinh thần thuế), Quy chuẩn chủ quan (áp lực từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) và Nhận thức kiểm soát hành vi (tính thuận tiện của thủ tục, chi phí tuân thủ).
  • Phân loại tuân thủ thuế: Khóa luận tiếp cận cách phân loại của Kirchler và Wahl (2010) chia tuân thủ thành "tuân thủ tự nguyện" và "tuân thủ bắt buộc", đối lập với hành vi không tuân thủ gồm "trốn thuế" và "tránh thuế". Ngoài ra, văn bản trình bày phân loại theo OECD (tuân thủ hành chính và tuân thủ kỹ thuật) cùng mô hình 4 cấp độ tuân thủ của Grabosky và Braithwaite (1986).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp định lượng giữ vai trò chủ đạo. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát phân phát theo hai hình thức: trực tiếp tại cơ sở kinh doanh và trực tuyến qua thư điện tử.
  • Quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0 bao gồm: thống kê mô tả mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính bội và kiểm định F để kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu được trích xuất từ các báo cáo thu ngân sách của Cục Thuế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2018–2022 và quý I/2023, số liệu thống kê của Tổng cục Thuế, Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2021 và Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình năm 2022 của Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình. Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu áp dụng các quy định của Luật Thuế TNCN năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, 2018), Luật Quản lý thuế năm 2006 (sửa đổi năm 2016), Nghị định 01/2021/NĐ-CP và Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về giảm trừ gia cảnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan lý thuyết về tuân thủ thuế thu nhập cá nhân

Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử hình thành sắc thuế TNCN từ các quốc gia phương Tây (bắt đầu từ Hà Lan năm 1797) đến quá trình triển khai tại Việt Nam qua Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1990 (đã trải qua 7 lần sửa đổi, bổ sung) và Luật Thuế TNCN năm 2007. Văn bản nêu rõ 6 đặc điểm riêng biệt của thuế TNCN: sắc thuế trực thu, tính trên phần thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản giảm trừ, tính lũy tiến, phạm vi đối tượng nộp thuế rộng và phức tạp, luôn gắn liền với chính sách xã hội của nhà nước, và không làm bóp méo giá cả sản phẩm hàng hóa dịch vụ.

Về quy định pháp luật hiện hành, chương này tổng hợp 10 loại thu nhập chịu thuế TNCN tại Việt Nam (thu nhập từ kinh doanh; tiền lương, tiền công; đầu tư vốn; chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; trúng thưởng; bản quyền; nhượng quyền thương mại; thừa kế; quà tặng). Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng 7 bậc thuế với mức thuế suất từ 5% đến 35%. Biểu thuế toàn phần quy định thuế suất từ 0,1% đến 25% tùy từng loại thu nhập. Mức giảm trừ gia cảnh có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 quy định mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng và cho mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

Chương 2: Khái quát về tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại địa bàn tỉnh Ninh Bình

Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình. Địa bàn tỉnh có diện tích 1.411,78 km², bao gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc (2 thành phố: Ninh Bình, Tam Điệp; 6 huyện: Gia Viễn, Hoa Lư, Kim Sơn, Nho Quan, Yên Khánh, Yên Mô). Dân số năm 2022 đạt trên 1.007.600 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 20.000 người (chủ yếu là dân tộc Mường). Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2022 đạt 81.775,5 tỷ đồng, trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm 30,95%, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 7,85%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp chiếm 13,39%. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 99.500 tỷ đồng (tăng 7,2% so với 2021). Doanh thu du lịch đạt 3.450 tỷ đồng (tăng gấp 4,5 lần so với năm 2021) với sự phục hồi mạnh mẽ sau dịch bệnh.

Về khu vực hộ kinh doanh, văn bản viện dẫn quy định tại khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP và phương pháp quản lý thuế khoán theo khoản 1 Điều 38 Luật Quản lý thuế. Số lượng hộ kinh doanh cá thể tại Ninh Bình đạt đỉnh vào năm 2019 với 100.743 hộ, sau đó giảm xuống còn 92.366 hộ năm 2020 và 90.916 hộ năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Công tác thu thuế TNCN trên địa bàn tỉnh liên tục hoàn thành vượt dự toán trong giai đoạn 2020–2022. Tuy nhiên, tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu NSNN của tỉnh còn ở mức thấp (dao động quanh mức 1,3% - 1,5%). Khảo sát thực tế phản ánh phần lớn chủ hộ có nhận thức tốt về nghĩa vụ thuế nhờ công tác tuyên truyền và ứng dụng kê khai điện tử; song vẫn còn bộ phận hộ kinh doanh xem nộp thuế là gánh nặng tài chính, e ngại thủ tục phức tạp và một số cơ sở chưa hoàn thành thủ tục đăng ký mã số thuế.

Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh cá thể tại địa bàn Ninh Bình

Chương 3 xây dựng khung phân tích định lượng dựa trên việc tích hợp các mô hình lý thuyết: Allingham - Sandmo (1972), lý thuyết thể chế, lý thuyết tâm lý xã hội và mô hình hành vi có kế hoạch (TPB). Mô hình nghiên cứu đề xuất xem xét 4 nhóm nhân tố độc lập chính tác động đến quyết định tuân thủ thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể:

  • Nhận thức của người nộp thuế về thuế và tính công bằng thuế;
  • Hệ thống thuế (bao gồm chính sách thuế, mức độ phức tạp và công tác thanh tra, kiểm tra);
  • Chi phí tuân thủ thuế (chi phí thời gian, chi phí tài chính phát sinh khi thực hiện thủ tục);
  • Ảnh hưởng của xã hội (chuẩn mực xã hội, áp lực từ các hộ kinh doanh xung quanh).

Chương này trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, bảng mã hóa thang đo các biến quan sát, số liệu thống kê mô tả mẫu khảo sát thu được tại Ninh Bình, kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha, kết quả kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt qua phân tích nhân tố khám phá EFA, ma trận tương quan Pearson, kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội và kết quả kiểm định F nhằm xác định mức độ phù hợp của mô hình và ý nghĩa thống kê của từng nhân tố.

Chương 4: Thảo luận và kiến nghị

Căn cứ kết cấu đề tài, Chương 4 tập trung thảo luận các phát hiện rút ra từ mô hình hồi quy và thực trạng thu thuế tại Ninh Bình. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp:

  • Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế và đổi mới phương thức tuyên truyền chính sách, pháp luật thuế phù hợp với đặc thù hộ kinh doanh cá thể;
  • Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuế áp dụng cho hộ kinh doanh, đơn giản hóa quy trình hành chính và xây dựng cơ chế khuyến khích, chế tài xử phạt hợp lý;
  • Làm rõ các hạn chế tồn tại trong quá trình thực hiện khóa luận và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Văn bản cung cấp chuỗi số liệu thực tế về tình hình thu ngân sách và biến động số lượng hộ kinh doanh cá thể tại tỉnh Ninh Bình qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Dự toán và kết quả thực hiện thu thuế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2020–2022

Chỉ tiêu Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Tổng dự toán thu NSNN (tỷ đồng) 14.018 Không ghi rõ Không ghi rõ
Thực tế thu NSNN (tỷ đồng) 21.300 20.956 Không ghi rõ
Tỷ lệ đạt được so với dự toán thu NSNN (%) 147,4 112,5 Vượt dự toán
Tổng dự toán thu thuế TNCN (tỷ đồng) 240 210 275
Thực tế thu thuế TNCN (tỷ đồng) 281 289 354
Tỷ lệ đạt được so với dự toán thuế TNCN (%) 117,1 137,6 128,7

Bảng 2: Biến động số lượng hộ kinh doanh cá thể tại tỉnh Ninh Bình

Năm 2015 2018 2019 2020 2021 (Sơ bộ)
Số lượng hộ kinh doanh cá thể (hộ) 94.824 99.331 100.743 92.366 90.916

Về mặt kết quả quản lý thuế, trong quý I/2023, tổng thu ngân sách nội địa trên địa bàn tỉnh đạt 3.157 tỷ đồng (đạt 18,5% dự toán cả năm), trong đó nguồn thu thuế TNCN có tiến độ thu khả quan khi hoàn thành 32% dự toán được giao.

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất hai nhóm nội dung chính hướng tới Tổng cục Thuế và Cục Thuế tỉnh Ninh Bình:

  1. Tiếp tục làm tốt công tác quản lý thuế và tuyên truyền chính sách, pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể: Cơ quan thuế cần đổi mới nội dung tuyên truyền, tận dụng nền tảng số và ngân hàng liên kết để hỗ trợ hộ kinh doanh nộp thuế điện tử, giảm thiểu chi phí và thời gian tuân thủ; nâng cao tính minh bạch trong phương pháp xác định mức doanh thu khoán.
  2. Hoàn thiện các quy định về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể cùng chính sách khuyến khích, xử phạt hợp lý: Tiếp tục rà soát, điều chỉnh chính sách thuế khoán phù hợp với quy mô thực tế của hộ kinh doanh; thiết lập khung xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi trốn thuế, cố tình chây ỳ đăng ký kinh doanh, đồng thời có cơ chế biểu dương, hỗ trợ các hộ kinh doanh tự nguyện tuân thủ tốt.

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Về mặt học thuật: Nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hành vi tuân thủ thuế TNCN của khu vực kinh tế hộ cá thể – một đối tượng ít được tiếp cận chuyên biệt trong các nghiên cứu định lượng tại Việt Nam so với đối tượng doanh nghiệp.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận là công trình đầu tiên khảo sát trực tiếp các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, mang lại góc nhìn sát thực cho cơ quan quản lý thuế địa phương trong việc hoạch định chính sách quản lý thuế khoán và mở rộng cơ sở thu thuế đối với khu vực làng nghề và dịch vụ du lịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số giới hạn trong phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn không gian: Dữ liệu điều tra khảo sát chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, do đó tính đại diện để khái quát hóa cho các địa phương có cấu trúc kinh tế khác biệt chưa cao.
  • Giới hạn thời gian khảo sát: Quá trình thu thập số liệu sơ cấp diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ ngày 15/03/2023 đến ngày 15/04/2023), phản ánh hành vi và nhận thức của người nộp thuế tại thời điểm khảo sát.
  • Giới hạn nội dung sắc thuế: Đề tài tập trung duy nhất vào sắc thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể, chưa tích hợp phân tích các nghĩa vụ tài chính song hành như thuế giá trị gia tăng, lệ phí môn bài hoặc các khoản phụ thu khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng địa bàn khảo sát sang các tỉnh lân cận thuộc khu vực Đồng bằng Sông Hồng, phân tầng mẫu khảo sát theo từng nhóm ngành nghề kinh doanh cụ thể (dịch vụ du lịch, thương mại, tiểu thủ công nghiệp làng nghề) và kiểm chứng thêm các biến tác động tiềm năng khác như sự am hiểu công nghệ số của người nộp thuế.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Thuế, Tài chính công, Quản trị kinh doanh và Kinh tế học: Tham khảo khung lý thuyết tổng hợp về hành vi tuân thủ thuế (tích hợp TRA, TPB, Allingham - Sandmo, lý thuyết công bằng và thể chế) cùng phương pháp thiết kế quy trình phân tích định lượng bằng SPSS.
  • Cán bộ quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Ninh Bình và các Chi cục Thuế trực thuộc: Cung cấp góc nhìn thực chứng về các rào cản tâm lý, chi phí tuân thủ và mức độ am hiểu chính sách của các chủ hộ kinh doanh, hỗ trợ quá trình lập kế hoạch quản lý thu thuế khoán tại các khu du lịch và làng nghề truyền thống.
  • Các nhà nghiên cứu về kinh tế hộ: Khai thác nguồn dữ liệu thống kê thứ cấp về tình hình biến động số lượng hộ kinh doanh cá thể và kết quả thực hiện dự toán thu thuế tại tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2018–2022.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hộ kinh doanh cá thể bắt đầu chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN tại Việt Nam từ thời điểm nào? Cá nhân và hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trước đây chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Đến ngày 22/11/2012, Quốc hội thông qua Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNCN (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013), chính thức đưa các đối tượng này sang chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN nhằm đảm bảo tính công bằng với các nguồn thu nhập khác.

  2. Số lượng hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình biến động như thế nào trong giai đoạn 2019–2021? Theo Niên giám thống kê năm 2021, số lượng hộ kinh doanh cá thể tại Ninh Bình đạt mức cao nhất vào năm 2019 với 100.743 hộ. Dưới tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đối với các hoạt động dịch vụ và du lịch, số lượng hộ giảm xuống còn 92.366 hộ vào năm 2020 và tiếp tục giảm còn 90.916 hộ vào năm 2021 (thấp hơn gần 4.000 hộ so với mốc năm 2015).

  3. Kết quả thu thuế TNCN thực tế tại tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2020–2022 so với chỉ tiêu dự toán được giao đạt kết quả ra sao? Số thu thuế TNCN tại Ninh Bình liên tục vượt dự toán trong giai đoạn 2020–2022: năm 2020 thu đạt 281 tỷ đồng (đạt 117,1% so với dự toán 240 tỷ đồng); năm 2021 thu đạt 289 tỷ đồng (đạt 137,6% so với dự toán 210 tỷ đồng); năm 2022 thu đạt 354 tỷ đồng (đạt 128,7% so với dự toán 275 tỷ đồng).

  4. Mô hình Allingham - Sandmo (1972) và bản mở rộng của Alm cùng cộng sự (1992) giải thích hành vi tuân thủ thuế qua các biến số nào? Mô hình Allingham - Sandmo (1972) xác định thu nhập kê khai của người nộp thuế là hàm số phụ thuộc vào 4 biến: thu nhập thực tế ($I$), xác suất bị cơ quan thuế kiểm tra phát hiện ($p$), mức độ hình phạt khi gian lận ($f$) và thuế suất ($t$). Năm 1992, Alm, Jackson và McKee bổ sung biến chi tiêu công của chính phủ ($G$), chứng minh hành vi tuân thủ thuế tỷ lệ thuận với lợi ích người dân thụ hưởng từ hàng hóa, dịch vụ công.

  5. Theo quy định pháp luật được văn bản trích dẫn, ngưỡng doanh thu nào khiến hộ kinh doanh cá thể không phải nộp thuế TNCN? Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành về thuế TNCN và thuế GTGT được nêu trong khóa luận, các hộ kinh doanh cá thể có mức doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống trong năm dương lịch thì không phải nộp thuế TNCN và thuế GTGT.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Mai Chi đã giải quyết bài toán nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của hộ kinh doanh cá thể tại tỉnh Ninh Bình bằng phương pháp định lượng. Công trình đã hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh tế lượng và hành vi, đồng thời phân tích bức tranh thực tiễn thu ngân sách tại địa phương giai đoạn 2018–2022. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất trong văn bản cung cấp căn cứ thực chứng giúp ngành thuế Ninh Bình nâng cao hiệu lực quản lý đối với khu vực kinh tế hộ cá thể.