CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1. Sự hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN hình thành từ khá sớm và đã có lịch sử hàng trăm năm, được áp dụng đầu tiên tại các nước phương Tây. Bắt nguồn từ Hà Lan vào năm 1797, sau đó lần lượt được sử dụng tại các nước Châu Âu khác, cũng như Úc, New Zealand, và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19.
Theo đó, các nước Châu Á cũng dần áp dụng thuế TNCN như Thái Lan năm 1939, Indonesia năm 1949, Hàn Quốc năm 1948, Trung Quốc năm 1984. Thuế TNCN dần lan rộng ra toàn thế giới và trở thành một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách tại các quốc gia, tạo ra sự bình đẳng trong đời sống xã hội với các mức thu nhập khác nhau, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Tính đến nay đã có 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân và Việt Nam cũng là một trong số đó. Tại Việt Nam, ngay từ giai đoạn đầu của Đổi mới, thuế TNCN đã được triển khai áp dụng.
Năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, có hiệu lực từ ngày 01/4/1991. Trong hơn 30 năm thực hiện, Pháp lệnh này đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần để đưa sắc thuế trở nên hiện đại, phù hợp và toàn diện hơn với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh, thực hiện giảm thuế suất, đồng thời cho phép áp dụng giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc mà người nộp thuế phải nuôi dưỡng. Khái niệm, đặc điểm về thuế TNCN 1. Khái niệm So với các sắc thuế trong hệ thống thuế, thuế TNCN được coi là đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
Khái niệm cụ thể về thuế TNCN chưa xuất hiện trong các văn bản Pháp luật của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, dựa trên Luật thuế Thu nhập cá nhân 2007 (Sửa 9 đổi, bổ sung năm 2018) và một số nghị định, thông tư hướng dẫn, tác giả khái quát khái niệm thuế TNCN như sau: “Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu tính trên phần thu nhập thực tế phát sinh mà các cá nhân nhận được trong từng năm, từng tháng, từng lần phát sinh thu nhập sau khi đã trừ đi các khoản thu nhập được tính miễn thuế và các khoản giảm trừ gia cảnh theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành.” Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam 1. Đặc điểm Là một sắc thuế trong hệ thống thuế, ngoài những đặc điểm chung của hệ thống thuế như: Thuế là một khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc, Thuế là khoản đóng góp mang tính chất không hoàn trả trực tiếp, Thuế mang tính pháp lý cao và được bảo vệ bởi pháp luật; Thuế TNCN cũng có những đặc điểm riêng sau: Thuế TNCN là một loại thuế trực thu Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế của thuế TNCN là một và là chính cá nhân trong quốc gia đó tại ra thu nhập bất kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ, bao gồm thường xuyên và cả không thường xuyên cùng với thu nhập được trả bởi quốc gia đó cho phần thu nhập của cá nhân người nước ngoài. Gánh nặng thuế do NTT chịu và NTT không thể chuyển gánh nặng thuế của mình cho người khác.
Vì liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội nên thuế TNCN là một sắc thuế có độ nhạy cảm cao, NTT thường có tâm lý tránh thuế, khai giảm thu nhập để nộp thuế thấp, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế TNCN. Thuế TNCN được tính trên phần thu nhập còn lại của NNT sau khi đã trừ đi các khoản được giảm trừ Hiện nay, còn nhiều quốc gia trên thế giới gặp khó khăn trong công việc xác định khoản được giảm trừ cho NTT vì một số lý do như không quản lý 10 được hết các khoản thu nhập, các trường hợp được giảm trừ, không đủ thông tin để giảm trừ hoặc thủ tục hành chính để kiểm soát phức tạp. Thuế TNCN là thuế tính lũy tiến Đặc điểm lũy tiến là do thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết sự chênh lệch thu nhập trong xã hội, bảo đảm công bằng xã hội. Phương pháp đánh thuế lũy tiến lần đầu được áp dụng tại Pháp.
Lúc đầu thuế được đánh theo phương pháp tỷ lệ và được cho là công bằng khi thu nhập càng cao thì phải đóng thuế càng nhiều. Quan điểm này đã dần được thay đổi trên cơ sở lợi ích cận biên - nghĩa là phần thu nhập phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu sẽ được miễn giảm hay đánh thuế thấp hơn phần thu nhập còn lại mà vượt ngưỡng cơ bản. Phần thu nhập cao hơn mức cơ bản này sẽ chịu thuế theo phương thức lũy tiến và cách đánh này được xem như đánh vào tầng lớp người giàu trong xã hội. Như vậy, việc đánh thuế lũy tiến từng phần điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, trung bình trong xã hội.
Phạm vi, đối tượng nộp thuế TNCN rộng và phức tạp Số lượng đối tượng thuộc diện nộp thuế TNCN rất nhiều và phức tạp, bao gồm cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, người Việt Nam và người nước ngoài. Đồng thời, thu nhập chịu thuế phát sinh từ nhiều nguồn thu nhập khác nhau như từ tiền lương, kinh doanh, đầu tư vốn, nhượng quyền, trúng thưởng, thừa kế. Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Mặc dù các quốc gia luôn hướng tới một hệ thống thuế mang tính trung lập, nhưng thuế TNCN vẫn luôn gắn liền với chính sách xã hội ở mỗi quốc gia. Điều này thể hiện ở việc khi mỗi quốc gia khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt có tính chất xã hội.
Thuế TNCN không bóp méo giá cả của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ 11 Thuế TNCN không cấu thành trong giá thanh toán (giá bán) của bất kỳ loại hàng hóa, dịch vụ nào nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế, mang cả vai trò của thuế nói chung, đồng thời mang những chức năng riêng đối với nền kinh tế - xã hội và hệ thống thuế. Đối với nền kinh tế - xã hội Thuế TNCN là một trong các nguồn thu chính cho ngân sách Nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu, tạo lập nguồn tài chính ổn định cho ngân sách nhà nước. Trong đó, thuế TNCN có phạm vi thu thuế rất rộng, tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa là thu nhập càng cao thì thuế TNCN càng cao.
Nguồn thu từ thuế sẽ phục vụ cho các lợi ích chung của quốc gia như: xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá, dịch vụ y tế, quốc phòng, giáo dục… Với thuế thu nhập cá nhân, phần tiền trích ra từ thu nhập của người nộp thuế thường được dùng để chi trả cho các khoản trợ cấp hưu trí, chi trả y tế và an sinh xã hội khác. Tại Việt Nam, nền kinh tế ngày càng hội nhập và phát triển, mức thu nhập của người dân tăng lên, đồng thời mức thu thuế TNCN càng cao. Điều đó cho thấy thuế TNCN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng nguồn thu ngân sách Nhà nước. Thuế TNCN góp phần phân phối lại thu nhập, nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo Có thể coi đây là vai trò đặc trưng nhất của thuế TNCN.
Điều này thể hiện ở đặc điểm lũy tiến của thuế TNCN, tức là người có thu nhập càng cao thì mức thuế phải đóng cành nhiều. Tính chất này đã góp phần thu hẹp chênh lệch giữa các mức thu nhập với nhau. Bên cạnh đó, tính công bằng của thuế TNCN còn thể hiện ở các khoản giảm trừ khi tính thuế, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh sống của người nộp thuế. Như 12 vậy, dù cùng mức thu nhập như nhau nhưng số tiền thuế từng cá nhân phải nộp có thể khác nhau do các khoản giảm trừ, miễn thuế không giống nhau.
Thuế TNCN góp phần phát hiện và ngăn chặn thu nhập bất hợp pháp tại Việt Nam Trên thực tế, nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân xuất phát từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được cũng như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng cấm, trốn thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc của nhà nước, Tuy nhiên, thông qua việc bắt buộc nộp các loại thuế như thuế thu nhập cá nhân, cơ quan chức năng sẽ có cơ hội phát hiện và ngăn chặn các hành vi thu lợi bất chính thông qua các nguồn bất hợp pháp.Đối với hệ thống thuế Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác Thuế TNCN với đặc điểm được tính lũy tiến đã góp phần khắc phục nhược điểm một số thuế gián thu như thuế TTĐB hay thuế GTGT. Hai sắc thuế này có tính lũy thoái, khi tiêu dùng cùng một lượng hàng hóa trên thị trường thì mọi người đều phải chịu một số thuế như nhau, không phân biệt thu nhập cao hay thấp, điều này ảnh hưởng đến người có thu nhập thấp hơn người có thu nhập cao. Góp phần hạn chế sự thất thu của thuế thu nhập doanh nghiệp Trong doanh nghiệp tồn tại cả thuế TNDN và thuế TNCN.