Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn đóng vai trò là xương sống của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp đăng ký và đóng góp trên 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tại Thành phố Hồ Chí Minh – đầu tàu kinh tế chiếm 0,6% diện tích, 8,34% dân số nhưng đóng góp tới 20,2% GDP và 26,1% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước – số lượng DNNVV đã không ngừng tăng trưởng từ 79.083 đơn vị năm 2009 lên 99.779 đơn vị năm 2013, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 6%/năm. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của khối doanh nghiệp này chính là sự nghẽn mạch dòng vốn tín dụng chính thức từ hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP).

Theo báo cáo của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, chỉ có khoảng 15% số doanh nghiệp nhỏ tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, trong khi hơn 80% vốn tín dụng dài hạn vẫn tập trung vào khu vực doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn lớn. Thực trạng khó khăn về thanh khoản và khả năng tiếp cận vốn đã khiến số lượng DNNVV ngừng hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 lên tới 20.585 doanh nghiệp, tăng 158% so với năm 2009 (với 7.986 doanh nghiệp ngừng hoạt động).

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá thực trạng tiếp cận vốn tín dụng, nhận diện và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đặc thù đến khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung thu thập dữ liệu chuỗi từ năm 2009 đến năm 2013 và dữ liệu điều tra khảo sát sơ cấp cuối năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng cao tỷ lệ tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp, hỗ trợ tối ưu hóa chi phí vốn từ mức lãi suất thị trường phi chính thức 18% - 24%/năm xuống mức lãi suất ngân hàng thương mại 9% - 11%/năm, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng tín dụng an toàn cho toàn hệ thống NHTMCP.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết kinh tế tài chính kinh điển kết hợp các mô hình thực nghiệm quốc tế:

Thứ nhất, Lý thuyết Bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) do Akerlof khởi xướng và được Stiglitz cùng Weiss phát triển trong mô hình Hạn chế tín dụng (Credit Rationing). Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng luôn ở vị thế thiếu thông tin về tình hình tài chính thực tế và mức độ rủi ro của DNNVV. Sự bất cân xứng này dẫn đến hai hệ quả là lựa chọn nghịch (adverse selection) trước khi cấp tín dụng và rủi ro đạo đức (moral hazard) sau khi giải ngân. Do đó, các ngân hàng thường áp dụng chính sách thắt chặt điều kiện cho vay, đòi hỏi tỷ lệ tài sản bảo đảm lên đến 100% - 150% giá trị khoản vay hoặc từ chối cấp tín dụng đối với các dự án có độ rủi ro cao.

Thứ hai, Lý thuyết Trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) của Myers và Majluf, chỉ ra rằng doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ trước tiên, sau đó mới tìm đến nợ vay ngân hàng và cuối cùng là phát hành cổ phần. Với các DNNVV có nguồn vốn tự có hạn hẹp dưới 20 tỷ đồng, nhu cầu tiếp cận vốn vay ngân hàng để tài trợ vốn lưu động và mở rộng sản xuất là vô cùng cấp thiết.

Khung phân tích kế thừa và phát triển từ ba công trình thực nghiệm tiêu biểu: nghiên cứu của Edmore Mahembe (2011) tại Nam Phi về các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến tỷ lệ từ chối vay 37% do thiếu tài sản bảo đảm; nghiên cứu của Ricardo N. Bebczuk (2004) trên 140 DNNVV tại Argentina về tác động của chỉ số sinh lời ROA, doanh thu và tỷ lệ thanh khoản; cùng nghiên cứu của Francis Nathan Okurut, Yinusa Olalekan và Kagiso Mangadi (2006) trên 250 DNNVV tại Botswana khẳng định vai trò của kinh nghiệm quản trị và ngành nghề kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo thường niên giai đoạn 2009 - 2013 của các NHTMCP lớn (như MBBank, ACB, BIDV, Vietcombank) và dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc phỏng vấn trực tiếp các chủ doanh nghiệp và nhà quản lý tài chính.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 220 DNNVV đang hoạt động hợp pháp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân cụm (cluster random sampling) theo địa bàn quận huyện và 3 nhóm ngành kinh tế chính: nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho tổng thể hơn 99.000 doanh nghiệp trên toàn địa bàn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình hồi quy Probit (Binary Probit Model) là vì biến phụ thuộc mang tính chất định danh nhị phân nhận hai giá trị: bằng 1 nếu DNNVV đã tiếp cận được vốn vay ngân hàng và bằng 0 nếu không tiếp cận được. Mô hình Probit giải quyết triệt để các khuyết tật của mô hình xác suất tuyến tính (LPM) như phương sai sai số thay đổi và giá trị xác suất ước lượng vượt ra ngoài khoảng [0, 1], thông qua kỹ thuật ước lượng hợp lý cực đại (Maximum Likelihood Estimation) trên phần mềm STATA. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt 12 tháng, từ khâu thiết kế công cụ, điều tra thực địa đến phân tích kinh tế lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình hồi quy Probit với 7 biến độc lập giải thích xác suất tiếp cận tín dụng của 220 DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh mang lại các kết quả có ý nghĩa thống kê cao:

Thứ nhất, Biến Số năm hoạt động (Namhoatdong) và Biến Kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp (Kinhnghiem) đều mang hệ số hồi quy dương có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (p < 0,01). Những doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm và người đại diện pháp luật có trên 8 năm kinh nghiệm thương trường có xác suất được cấp tín dụng cao hơn 28,6% so với nhóm doanh nghiệp mới thành lập dưới 3 năm.

Thứ hai, Biến Ngành nghề kinh doanh (Nganh) có tác động dương ở mức ý nghĩa 5% (p < 0,05). Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Thương mại - Dịch vụ có khả năng tiếp cận vốn vay cao hơn 22,4% so với các doanh nghiệp thuộc nhóm Nông nghiệp và Công nghiệp - Xây dựng, do đặc thù chu chuyển vốn nhanh đạt 3 đến 5 vòng quay mỗi năm.

Thứ ba, Biến Quy mô tài sản (Quymo) và Doanh thu hàng năm (DT) có tác động thuận chiều mạnh mẽ (p < 0,01). Các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 20 tỷ đồng và doanh thu đạt mức trên 50 tỷ đồng/năm ghi nhận tỷ lệ được duyệt hồ sơ vay tăng thêm 31,5% nhờ năng lực bảo đảm và dòng tiền trả nợ rõ ràng.

Thứ tư, Biến Độ thanh khoản (Thkhoan = Tiền mặt / Tổng tài sản) mang hệ số hồi quy âm có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (p < 0,05). Doanh nghiệp duy trì tỷ lệ tiền mặt/tổng tài sản quá cao (vượt mức 25%) làm giảm xác suất vay vốn thành công khoảng 14,8%.

Thứ năm, Biến Mục đích vay vốn (Mucdich) mang dấu dương với mức ý nghĩa 1%. Doanh nghiệp vay nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động có xác suất được ngân hàng phê duyệt cao hơn 35,6% so với các khoản vay đầu tư tài sản cố định dài hạn.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua các bảng thống kê và biểu đồ phân bổ mẫu khảo sát, nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế tín dụng bắt nguồn từ sự bất cân xứng thông tin nghiêm trọng. Bảng tổng hợp thực trạng tài chính cho thấy có tới 68,2% DNNVV khảo sát không có báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập, hệ thống sổ sách kế toán chưa minh bạch, dẫn đến việc các NHTMCP e ngại rủi ro nợ xấu (vốn duy trì ở mức 2% - 3% toàn hệ thống giai đoạn 2012 - 2013). Biểu đồ cơ cấu dư nợ chỉ ra rằng tỷ trọng cho vay DNNVV tại các ngân hàng thương mại cổ phần chỉ chiếm từ 13,4% (ACB) đến 17,9% (MBBank), trong khi các ngân hàng thương mại nhà nước như VietinBank dành tới 40% tổng dư nợ (tương đương gần 150.000 tỷ đồng) và BIDV dành 24% (khoảng 93.000 tỷ đồng) cho khối doanh nghiệp nhà nước.

Phát hiện về tác động tiêu cực của tỷ lệ thanh khoản hoàn toàn tương đồng với kết luận của Ricardo N. Bebczuk (2004) tại Argentina. Ngân hàng nhận định rằng việc doanh nghiệp giữ tỷ lệ tiền mặt quá lớn thể hiện sự trì trệ trong hoạt động đầu tư hoặc chủ doanh nghiệp đang có xu hướng rút vốn an toàn ra khỏi đơn vị kinh doanh để chuyển rủi ro hoạt động sang cho phía ngân hàng gánh chịu. Đồng thời, tỷ lệ từ chối cấp tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm (chiếm 54,5% số doanh nghiệp chưa vay được trong mẫu) có sự tương thích cao với kết quả nghiên cứu của Edmore Mahembe (2011) tại Nam Phi (với 37% trường hợp từ chối vay do thiếu tài sản thế chấp). Điều này khẳng định rằng tài sản bảo đảm và độ minh bạch lịch sử tín dụng tại Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC) vẫn là điều kiện tiên quyết trong hoạt động cấp tín dụng tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng cho DNNVV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, đối với các Ngân hàng Thương mại Cổ phần: Cần chủ động thiết kế các gói sản phẩm tín dụng chuyên biệt dành riêng cho từng phân khúc ngành nghề kinh doanh, gia tăng hình thức cấp tín dụng thấu chi và bao thanh toán nội địa. Ngân hàng cần chuyển dịch tỷ trọng cho vay từ phương thức thế chấp thuần túy sang cho vay dựa trên dòng tiền quản lý qua tài khoản và thẩm định hợp đồng đầu ra, phấn đấu nâng tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV lên mức 25% - 30% tổng dư nợ trong lộ trình 3 đến 5 năm tới. Rút ngắn thời gian thẩm định từ mức trung bình 15 ngày xuống còn 5 đến 7 ngày làm việc.

Thứ hai, đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cần nhanh chóng chuẩn hóa công tác kế toán theo đúng Luật Kế toán và chuẩn mực kế toán Việt Nam, định kỳ thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm để nâng cao tính minh bạch thông tin. Doanh nghiệp cần cơ cấu lại dòng vốn, duy trì tỷ lệ thanh khoản tiền mặt tối ưu ở mức 10% - 15% tổng tài sản, xây dựng phương án kinh doanh khả thi và duy trì lịch sử trả nợ đúng hạn để nâng cao điểm tín nhiệm trên hệ thống CIC.

Thứ ba, đối với Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Cần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV Thành phố Hồ Chí Minh, xem xét tăng quy mô vốn điều lệ của Quỹ lên mức 1.000 tỷ đồng. Thiết lập cơ chế bảo lãnh tín chấp linh hoạt từ 60% đến 80% giá trị khoản vay đối với các dự án thuộc nhóm ngành công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao và xuất khẩu.

Thứ tư, đối với các Tổ chức Hiệp hội ngành nghề: Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cần đóng vai trò cầu nối, định kỳ hàng quý tổ chức các hội nghị kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp. Phối hợp tổ chức tối thiểu 10 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng quản trị dòng tiền, lập kế hoạch tài chính cho 500 đến 1.000 lãnh đạo doanh nghiệp hội viên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu rộng cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Ban Giám đốc, Chủ doanh nghiệp và Kế toán trưởng các DNNVV: Giúp doanh nghiệp thấu hiểu 7 tiêu chí thẩm định tín dụng then chốt của các ngân hàng thương mại, từ đó chủ động khắc phục các điểm yếu về báo cáo tài chính, quản trị cơ cấu tài sản và tăng khả năng vay vốn thành công từ 15% lên trên 60%.

Thứ hai, Chuyên viên Quản lý Tín dụng và Thẩm định Rủi ro tại các NHTMCP: Cung cấp mô hình định lượng Probit ứng dụng trực tiếp vào việc xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ, tối ưu hóa quy trình sàng lọc khách hàng doanh nghiệp và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới ngưỡng 2,5%.

Thứ ba, Cơ quan Quản lý Nhà nước và Ban Điều hành các Quỹ Hỗ trợ: Các chuyên gia hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Công Thương và Quỹ Bảo lãnh tín dụng có căn cứ thực nghiệm vững chắc để ban hành các chương trình tài trợ vốn lãi suất ưu đãi giai đoạn mới.

Thứ tư, Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên Cao học ngành Tài chính - Ngân hàng: Tài liệu là nguồn tham khảo mẫu mực về quy trình nghiên cứu khoa học, phương pháp kết hợp lý thuyết tài chính vi mô với mô hình kinh tế lượng Probit trên phần mềm thống kê chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ thanh khoản cao lại làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV? Theo kết quả mô hình Probit với mức ý nghĩa 5%, doanh nghiệp có tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản quá cao (trên 25%) làm giảm xác suất vay vốn khoảng 14,8%. Ngân hàng thương mại cho rằng doanh nghiệp không sử dụng vốn hiệu quả hoặc đang tìm cách rút tiền mặt ra khỏi hoạt động kinh doanh chính nhằm chuyển giao rủi ro tài chính sang tổ chức tín dụng.

Doanh nghiệp thành lập dưới 3 năm có thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng bằng cách nào? Doanh nghiệp dưới 3 năm tuổi cần bù đắp hạn chế về thời gian hoạt động bằng việc chứng minh năng lực và kinh nghiệm quản lý trên 5 năm của người đứng đầu, xây dựng phương án kinh doanh chi tiết đạt tỷ suất sinh lời trên 15%/năm, quản lý dòng tiền minh bạch qua tài khoản ngân hàng và cung cấp các hợp đồng kinh tế đầu ra uy tín.

Ngành Thương mại - Dịch vụ có những ưu thế gì nổi bật khi vay vốn tại NHTMCP? Nghiên cứu chỉ ra nhóm ngành Thương mại - Dịch vụ có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn 22,4% so với các nhóm ngành khác. Doanh nghiệp ngành này có chu kỳ luân chuyển vốn nhanh từ 3 đến 5 vòng/năm, tính thanh khoản của hàng hóa cao và ít gặp rủi ro chôn vốn vào hệ thống nhà xưởng, máy móc cố định lạc hậu.

Giải pháp nào giúp doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp vẫn có thể vay được vốn? Doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm nên tiếp cận các chương trình bảo lãnh tín dụng từ Quỹ Bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh với mức bảo lãnh lên tới 70% - 80% khoản vay, hoặc sử dụng các hình thức cấp tín dụng hiện đại như chiết khấu chứng từ bán hàng, bao thanh toán nội địa và cho vay thấu chi tín chấp dựa trên dòng tiền.

Vay vốn để bổ sung vốn lưu động có tỷ lệ phê duyệt cao hơn vay dài hạn bao nhiêu phần trăm? Kết quả hồi quy mô hình Probit khẳng định các khoản vay nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động có xác suất được ngân hàng phê duyệt giải ngân cao hơn 35,6% so với các mục đích vay trung và dài hạn. Khoản vay ngắn hạn dưới 12 tháng giúp ngân hàng dễ dàng giám sát vòng quay tiền tệ và hạn chế rủi ro biến động kinh tế vĩ mô.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng tiếp cận vốn của DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2013 và lượng hóa thành công 7 nhân tố ảnh hưởng thông qua mô hình Probit.
  • Kết quả khẳng định số năm hoạt động, kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp, quy mô tài sản, doanh thu, ngành thương mại dịch vụ và mục đích vay vốn lưu động có tác động thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn, trong khi tỷ lệ thanh khoản quá cao gây tác động nghịch chiều.
  • Bất cân xứng thông tin và sự thiếu hụt tài sản bảo đảm đạt chuẩn định giá (chiếm trên 54% mẫu khảo sát) là rào cản căn bản khiến tăng trưởng tín dụng DNNVV tại các NHTMCP chỉ đạt mức 12% - 17,9%.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, gắn kết trách nhiệm giữa ngân hàng thương mại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính quyền thành phố cùng các hiệp hội xúc tiến thương mại.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo cần đi sâu phân tích tác động của các định chế công nghệ tài chính (Fintech) và cơ chế xếp hạng tín dụng tự động đến khả năng cấp vốn cho doanh nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực nghiệm chân thực, kết hợp hoàn chỉnh giữa lý luận kinh tế và phương pháp lượng hóa dữ liệu khảo sát 220 doanh nghiệp tại đô thị kinh tế lớn nhất Việt Nam. Trong lộ trình trung hạn 2015 - 2020, việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo bước đột phá trong tái cấu trúc dòng vốn. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản trị hãy tải và tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả vào công tác quản trị tài chính và thẩm định tín dụng thực tiễn.