Mở đầu. Chương này nêu ra lí do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Chương này nêu một số lý thuyết cơ bản về tài chính toàn diện và trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Chương 3: Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và chi nhánh huyện Tịnh Biên An Giang. Chương này giới thiệu sơ lược về Agribank nói chung và Agribank huyện Tịnh Biên An Giang nói riêng mà đề tài này đang đề cập đến. Chương 4: Kết quả nghiên cứu của đề tài. Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu của tác giả.
Kết quả nghiên cứu gồm: kết quả định tính và định lượng. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Dựa trên kết quả phân tích đã thực hiện ở chương 4 đưa ra kết luận và một số kiến nghị góp phần tích cực cho sản phẩm tài chính của ngân hàng. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm tài chính toàn diện Tổ chức tài chính hàng đầu thế giới là Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã có định nghĩa như sau về tài chính toàn diện: “Tài chính toàn diện có nghĩa là các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính - các giao dịch, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm - đáp ứng nhu cầu của họ và có mức chi phí hợp lý, được cung cấp theo một cách thức có trách nhiệm và bền vững”.
Tài chính toàn diện là một trạng thái mà tất cả mọi người có khả năng sử dụng dịch vụ này được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ tài chính chất lượng cao được cung cấp ở mức giá hợp lý theo cách thức thuận tiện cùng với sự tôn trọng khách hàng (Theo Trung tâm tài chính toàn diện Accion). TCTD có liên quan đến môi trường tiếp cận các dịch vụ tài chính (Allen et al. Vì vậy, TCTD có thể được hiểu là phương tiện cung cấp dịch vụ tài chính chính thức (tài khoản ngân hàng, tiết kiệm và tín dụng) đến cho mọi đối tượng khó khăn do gặp vấn đề về rào cản như thu nhập, chi phí dịch vụ, giới tính (Camara et al., 2014; Hannig & Jansen, 2010) và bao hàm ba yếu tố cấu thành cốt lõi là “tiếp cận”, “sử dụng” và “chất lượng dịch vụ tài chính”.2 Vai trò của tài chính toàn diện Tài chính toàn diện được coi là có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của một quốc gia. Khía cạnh quan trọng nhất của tài chính toàn diện là tiếp cận tài chính.
TCTD mang lại những lợi ích không nhỏ cho xã hội và nền kinh tế. TCTD có thể tạo ra những tác động tích cực như: gia tăng tiết kiệm và đầu tư, qua đó, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Tiếp cận dịch vụ ngân hàng giúp các cá nhân và doanh nghiệp tìm được nguồn lực để đáp ứng những nhu cầu như vay vốn cho các cơ hội kinh doanh, đầu tư cho con cái học hành, hoặc dành tiền tiết kiệm khi về hưu. Vay vốn ngân hàng còn giúp người nông dân, người nghèo bảo vệ mình trước những cú sốc hay rủi ro trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, mất mùa, thiên tai.
Người nghèo sẽ tránh được vòng luẩn quẩn khi phải đi vay ở khu vực không chính thức với lãi suất cao, khiến cho gánh nặng trả nợ càng cao để rồi nghèo sẽ càng nghèo hơn, thậm chí bị bần cùng hóa. 4 Những người không có tài khoản ngân hàng cũng dễ bị loại trừ khỏi các dịch vụ khác như y tế, bảo hiểm. TCTD còn giúp Chính phủ giảm bớt chi phí cho các chương trình trợ cấp an sinh xã hội thông qua việc chi trả qua tài khoản ngân hàng, làm tăng sự minh bạch, phòng chống tham nhũng tích cực hơn, nhờ đó quản lý xã hội tốt hơn. Một xã hội với cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính mở rộng cho tất cả mọi người sẽ tăng cường sự tham gia của họ vào cuộc sống cộng đồng nói chung, cải thiện công bằng và bình đẳng, năng lực của toàn xã hội theo đó cũng được nâng lên.
Đối với các tổ chức tài chính, TCTD đồng nghĩa với việc mở rộng đối tượng phục vụ tới tất cả nhóm người trong xã hội, tạo cơ hội cho họ phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, mở rộng cơ sở khách hàng và theo đó là lợi nhuận tăng lên.3 Các rào cản của tài chính toàn diện Việc sử dụng dịch vụ tài chính phụ thuộc chủ yếu vào mức thu nhập của mỗi cá nhân. Ở những nước nghèo nhất, người giàu và ở thành thị là những người sử dụng dịch vụ ngân hàng nhiều nhất. Do đó, khu vực ngân hàng chính thức thông thường chỉ phục vụ cho nhóm khách hàng ở trên ngưỡng nghèo, chủ yếu là những người làm công ăn lương, có thu nhập ổn định. Trong khi đó những người nghèo lại sử dụng dịch vụ ngân hàng ở khu vực không chính thức.
Những điều này muốn nói rằng tất cả mọi người, kể cả người nghèo cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính. Bức tranh đối lập với TCTD là sự loại trừ tài chính, nhằm nói tới những đối tượng gặp khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ tài chính và hệ thống tài chính. Tình trạng loại trừ tài chính có thể là “tự nguyện” hoặc “không tự nguyện”, bởi loại trừ tài chính có thể là do những trở ngại khách quan khi tiếp cận hệ thống tài chính hoặc là do chính sự lựa chọn của cá nhân bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Thước đo đầu tiên và quan trọng nhất của TCTD là tỷ lệ người có tài khoản tại tổ chức tài chính chính thức.
Tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản là khác nhau giữa các nước trên thế giới. Lý do được nói đến nhiều nhất khi một cá nhân không có một tài khoản chính thức là không có đủ tiền. Tiếp đó là những nguyên nhân như việc mở tài khoản là tốn kém, khoảng cách đến ngân hàng quá xa, thiếu những giấy tờ cần thiết đáp ứng yêu cầu của ngân hàng, thiếu tin tưởng vào ngân hàng. Ở những nước đang phát triển, lý do phổ biến là khoảng cách xa xôi, thiếu thu nhập, chi phí tốn kém và thiếu giấy tờ cần thiết.
Các chi phí đi kèm với việc sở hữu tài khoản đã trở thành rào cản chủ yếu. Đối với nhiều người, chi phí duy trì tài khoản và mức phí cho mỗi lần giao dịch khiến cho việc sử dụng tài khoản trở thành tốn kém. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những chi phí này càng cao, càng có nhiều người không có tài khoản (Demirgüç-Kunt & Klapper, 2012). Một số người, đặc biệt là những người có thu nhập thấp sẽ không sử dụng các dịch vụ tài chính bởi vì đối với họ các dịch vụ đó có mức giá đắt đỏ và họ không thể đáp ứng được.
5 Vì thế, cho dù các dịch vụ này là có sẵn song họ vẫn khó tiếp cận dịch vụ. Các rào cản đến từ việc chi phí cao áp dụng cho việc mở và duy trì tài khoản. Cơ sở hạ tầng thanh toán yếu cũng là rào cản khiến cho các khách hàng từ chối sử dụng dịch vụ. Khoảng cách đến với một điểm tiếp cận dịch vụ, cụ thể là các chi nhánh ngân hàng hay điểm giao dịch, là trở ngại lớn đặc biệt ở những nước đang phát triển.
Khoảng cách địa lý cũng có thể là khó khăn khiến cho một số khách hàng ban đầu đã đăng ký các dịch vụ nhưng sau đó họ không sử dụng nhiều các dịch vụ này như những người khác. Bên cạnh đó, những yêu cầu về hồ sơ giấy tờ cần có để mở tài khoản trên thực tế đã loại trừ nhiều người ở khu vực nông thôn hay những người lao động tự do (khu vực không chính thức), là những người khó chứng minh thu nhập hay nơi cư trú chính thức. Ví dụ như việc tiếp cận dịch vụ tài chính đòi hỏi khách hàng phải có các giấy tờ chứng minh liên quan tới xác nhận nhân thân, thu nhập, hay là hồ sơ kinh doanh đối với doanh nghiệp. trong khi một số cá nhân và doanh nghiệp không có khả năng để hoàn thiện các hồ sơ này, và do vậy họ không thể tiếp cận các dịch vụ.
Nhiều người không thấy thoải mái khi sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức. Nguyên nhân là do khó hiểu về ngôn ngữ, có quá nhiều loại giấy tờ và điều kiện đi kèm với dịch vụ tài chính và có thể đơn giản chỉ là thiếu sự tin tưởng vào các tổ chức cung cấp dịch vụ. Một đặc điểm phổ biến của những người không có tài khoản ngân hàng là thiếu giáo dục và thông thường là thiếu kiến thức về tài chính. Tuy nhiên đôi khi giáo dục cũng có quan hệ chặt chẽ với thu nhập.4 Các thước đo tài chính toàn diện Tác giả Các biến trong nghiên cứu (Suresh & Chỉ ra các yếu tố đo tần suất sử dụng dịch vụ ngân Kalyanaraman, 2018) hàng như: + Mục đích của tài khoản + Tiện lợi + Mức độ dễ sử dụng các sản phẩm ngân hàng + Khoảng cách gần với chi nhánh (Nandru et al., 2015) Đã chỉ ra các yếu tố: + Mục đích mở tài khoản ngân hàng + Dễ dàng sử dụng sản phẩm Đều có ảnh hưởng đền tần suất sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng cá nhân.
(Allen et al., 2016) Đã thực hiện nghiên cứu và cho thấy: + Sử dụng tài khoản để tiết kiệm 6 + Quyền sở hữu tài khoản + Thường xuyên sử dụng tài khoản (được định nghĩa là ba lần rút tiền mỗi tháng) Là các yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng. (Sarma, 2008) Mô hình ảnh hưởng đến mức độ tài chính toàn diện bằng chỉ số tài chính toàn diện như: + Sự thâm nhập + Sự thuận tiện + Mức độ sử dụng (Khuyên & Phương, Các yếu tố: 2018) + Điểm truy cập và mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng + Mức độ sử dụng tài khoản để nhận thanh toán và gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng + Mức độ sử dụng tín dụng tại các tổ chức tín dụng + Mức độ thanh toán điện tử và ngân hàng di động + Mức độ thâm nhập bảo hiểm Đều ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính toàn diện.