Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp 1. Một số khái niệm Đất nông nghiệp: Theo Luật Đất đai 2013 thì nhóm đất nông nghiệp (trong đề tài này gọi chung là đất nông nghiệp) bao gồm đất dùng để trồng cây hàng năm, cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. Đất phi nông nghiệp: Nhóm đất phi nông nghiệp (trong đề tài này gọi chung là đất phi nông nghiệp) bao gồm các loại đất: đất ở; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng và đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Thu hồi đất: Là việc cơ quan nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức hoặc cá nhân đang sử dụng đất. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. 6 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. Giá trị quyền sử dụng đất: Là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.
Hộ nông dân: Là các hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. Thu nhập: Là số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 01 năm), hay thu nhập là phần giá trị còn lại của sản phẩm sau khi trừ đi các khoản chi phí vật chất hay chi phí thuê ngoài. Thu nhập có thể được tính bằng tiền hoặc bằng công.
Thu nhập của hộ gia đình: Là toàn bộ thu nhập của những thành viên trong gia đình đó. Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định. Vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xu hướng biến động đất nông nghiệp 1. Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Trong gần 30 năm qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn lại đi trước mở đường trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện để đất nước vươn lên. Những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩm thô, từ đó an ninh lương 7 thực trong nước được đảm bảo, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế như gạo, thủy hải sản, cà phê, cao su. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển. Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động nông thôn ngày càng phát triển.
Song, cũng như các nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, ở nước ta, quá trình này thường đi kèm những thay đổi không nhỏ về các mặt kinh tế - xã hội; và nông nghiệp, nông dân, nông thôn thường bị thiệt thòi, chịu nhiều hy sinh. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển nhất trong nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, sử dụng không hiệu quả dẫn đến gây lãng phí các nguồn lực quý giá cho phát triển nông nghiệp. Thu nhập của người nông dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Nhiều hộ gia đình ở nông thôn tuy đã thoát khỏi diện nghèo đói, nhưng thực tế thu nhập chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo đói không đáng kể. Người dân nông thôn không có nhiều cơ hội tiếp cận với các thành tựu của phát triển, các dịch vụ cơ bản như vệ sinh, môi trường, y tế, giáo dục. cũng chưa được cung cấp đầy đủ. Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chất lượng xuống cấp nghiêm trọng.
Nhìn nhận vai trò của nông nghiệp, nông dân nước ta đối với sự phát triển nông thôn có thể qua những nội dung chính như: - Về kinh tế: Theo công bố tình hình KT-XH năm 2018 của Tổng cục Thống kê, năm 2018, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 đến nay. Trong mức tăng chung 8 của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đây cũng là mức tăng trưởng cao nhất của khu vực nông, lâm, thủy sản trong giai đoạn 2012-2018, cụ thể năm 2012 là 2,92%, 2013 là 2,63%, 2015 là 2,41%, 2017 là 2,9% và năm 2018 là 3,76%. Đây là kết quả khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp đã và đang phát huy hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Nông nghiệp, nông dân đã góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ để tăng trưởng kinh tế. Nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm vừa qua. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng lên và đạt giá trị hàng tỷ đôla Mỹ, đó là nguồn ngoại tệ quý giá để đầu tư phát triển kinh tế cho đất nước. Ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã có chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tính chất thuần nông, thuần lương thực, mang tính tự cung tự cấp sang một nền nông nghiệp đa dạng mang tính chất sản xuất hàng hóa.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa và sản xuất hàng hóa là điều kiện cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hiệu quả của từng ngành, cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Về xã hội: Cùng với những chuyển biến về mặt kinh tế, trong xã hội nông thôn cũng có sự chuyển biến tích cực về tư duy và lối sống. So với trước đây, người nông dân hiện nay năng động hơn, chủ động hơn, biết theo “những tín hiệu của thị trường” để điều chỉnh sản xuất với mong muốn tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Chính vì vậy đời sống vật chất và tinh thần của dân cư trong nông thôn được cải thiện rõ rệt.
Với những nỗ lực của các tầng lớp dân cư nông thôn, với sự hỗ trợ của nhà nước, tỷ lệ nghèo đói đã giảm đi nhanh chóng. Xu hướng biến động đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là một yếu tố đầu vào đặc biệt và rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Biến động của quỹ đất nông nghiệp diễn ra theo hai hướng: Hướng thứ nhất: do quá trình đô thị hóa, do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, do sự hình thành các trung tâm công nghiệp mới làm cho quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp lại. Ở Việt Nam xu hướng này đã và đang diễn ra ngày một nhanh.
Đây là xu hướng vận động tất yếu nên vấn đề đặt ra là lựa chọn địa điểm để xây dựng đô thị và khu công nghiệp cũng như các cơ sở hạ tầng thế nào để bảo đảm tính khoa học tính kinh tế có lợi cho toàn xã hội. Hướng thứ hai: do sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu về nông sản ngày càng tăng trong khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc khai khẩn đất chưa sử dụng, đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên. Trong cơ chế thị trường, đất đai trở thành đối tượng của sự mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, thuê mướn. Hiện nay nước ta trong qua trình phát triển càng làm tăng lên nhu cầu về đất đai, vì vậy thị trường đất đai trở nên sôi động.
Về cung đất đai xét trên tổng quỹ đất đai là cố định, thể hiện trên đồ thị là một đường thẳng, tuy nhiên cung của từng loại đất có thể biến động do có sự chuyển đổi mục đích sử dụng qua lại lẫn nhau. Cầu về đất đai là cầu phát sinh do sự tăng lên của nhu cầu đối với các sản phẩm từ đất đai và các nhu cầu khác của các ngành, của nhu cầu xây dựng nhà ở. Đối với đất nông nghiệp, mức cung đất nông nghiệp cũng có thể tăng hoặc giảm. Sự tăng lên của mức cung đất nông nghiệp có thể được biểu hiện ở một số khía cạnh như: chuyển những diện tích đất hoang hóa thành đất nông nghiệp mới khai phá; chuyển một phần đất khác (chủ yếu là đất lâm nghiệp) thành đất nông nghiệp; 10 lưu chuyển đất nông nghiệp giữa các chủ thể.
Việc lưu chuyển đất nông nghiệp giữa các chủ thể không làm tăng tổng cung đất nông nghiệp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng thị trường đất nông nghiệp.