Nhân Tố Tác Động Đến Sự Hài Lòng Của Doanh Nghiệp Đối Với Dịch Vụ Thuế Trực Tuyến Tại Hà Nội

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp với dịch vụ thuế trực tuyến tại Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

173
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các nghiên cứu về sự hài lòng đối với dịch vụ công trực tuyến

1.2. Dịch vụ công trực tuyến và sự hài lòng đối với dịch vụ công trực tuyến

1.3. Nhân tố tác động đến sự hài lòng đối với dịch vụ công trực tuyến

1.4. Các nghiên cứu về sự hài lòng đối với dịch vụ thuế trực tuyến

1.5. Dịch vụ thuế trực tuyến và sự hài lòng đối với dịch vụ thuế trực tuyến

1.6. Nhân tố tác động đến sự hài lòng đối với dịch vụ thuế trực tuyến

1.7. Tầm quan trọng của việc đánh giá sự hài lòng đối với dịch vụ thuế trực tuyến

1.8. Kết luận rút ra từ tổng quan các nghiên cứu liên quan

1.9. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THUẾ TRỰC TUYẾN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm và phân loại về sự hài lòng

2.1.1. Khái niệm về sự hài lòng

2.1.2. Phân loại sự hài lòng

2.2. Mô hình lý thuyết liên quan đến sự hài lòng

2.3. Dịch vụ công và dịch vụ hành chính công

2.3.1. Khái niệm dịch vụ công

2.3.2. Đặc điểm của dịch vụ công

2.3.3. Phân loại dịch vụ công

2.3.4. Khái niệm dịch vụ hành chính công

2.3.5. Đặc điểm của dịch vụ hành chính công

2.4. Mô hình đánh giá sự hài lòng đối với dịch vụ công trực tuyến

2.5. Dịch vụ thuế trực tuyến

2.5.1. Khái niệm dịch vụ thuế trực tuyến

2.5.2. Đặc điểm của dịch vụ Thuế trực tuyến

2.6. Mô hình nghiên cứu về sự hài lòng đối với dịch vụ thuế trực tuyến

2.6.1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2.6.2. Mô hình nghiên cứu lý thuyết

2.6.3. Giả thuyết nghiên cứu

2.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Thiết kế nghiên cứu

3.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.3.1. Nghiên cứu định tính

3.3.2. Xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến

3.3.3. Thay đổi nội dung nhân tố và nội dung biến quan sát

3.3.4. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.3.5. Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Crobach Alpha trong nghiên cứu sơ bộ

3.3.6. Phân tích nhân tố khám phá EFA

3.3.7. Phân tích hồi quy

3.4. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.4.1. Mô hình nghiên cứu chính thức

3.4.2. Quy trình chọn mẫu và quy mô mẫu nghiên cứu

3.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THUẾ TRỰC TUYẾN

4.1. Bối cảnh chung về tình hình sử dụng dịch vụ thuế trực tuyến tại Hà Nội

4.2. Mô tả mẫu điều tra

4.3. Kiểm định dữ liệu khảo sát

4.3.1. Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha

4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3.3. Phân tích nhân tố khẳng định

4.4. Đánh giá của doanh nghiệp về các nhân tố tác động đến sự hài lòng đối với dịch vụ thuế trực tuyến

4.4.1. Đánh giá của doanh nghiệp về tính hiệu quả

4.4.2. Đánh giá của doanh nghiệp về sự an toàn và bảo mật

4.4.3. Đánh giá của doanh nghiệp về thiết kế web

4.4.4. Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ

4.4.5. Đánh giá của doanh nghiệp về niềm tin vào internet

4.4.6. Đánh giá của doanh nghiệp về niềm tin đối với cơ quan Thuế

4.4.7. Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ hài lòng

4.5. Kiểm định sự khác biệt về sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ Thuế trực tuyến

4.5.1. Kiểm định sự khác biệt về hài lòng dịch vụ thuế trực tuyến theo quy mô doanh nghiệp

4.5.2. Kiểm định sự khác biệt về hài lòng dịch vụ thuế trực tuyến theo thời gian sử dụng thuế trực tuyến

4.6. Mức độ tác động của các nhân tố tới sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến

4.7. Đánh giá chung

4.8. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THUẾ TRỰC TUYẾN CỦA CƠ QUAN THUẾ

5.1. Phương hướng cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa ngành Thuế

5.1.1. Quan điểm cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa của ngành Thuế

5.1.2. Phương hướng cải cách hiện đại hoá của ngành Thuế

5.2. Thảo luận về kết quả nghiên cứu

5.3. Một số đề xuất với cơ quan Thuế nhằm nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ Thuế trực tuyến trên địa bàn Hà Nội

5.3.1. Tăng cường mức độ an toàn và bảo mật của hệ thống

5.3.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ trực tuyến

5.3.3. Nâng cao niềm tin của doanh nghiệp đối với internet và cơ quan thuế

5.3.4. Giải pháp nâng cao tính hiệu quả của dịch vụ Thuế trực tuyến

5.3.5. Nâng cao chất lượng trang web và chất lượng đường truyền

5.3.6. Một số giải pháp, kiến nghị khác

5.3.7. Kiến nghị với Tổng cục thuế

5.3.8. Kiến nghị với Doanh nghiệp

5.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sự Hài Lòng Của Doanh Nghiệp Đối Với Dịch Vụ Thuế Trực Tuyến

Sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống thuế hiện đại. Tại Hà Nội, dịch vụ thuế trực tuyến đã được triển khai nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những giải pháp cải thiện.

1.1. Khái Niệm Về Sự Hài Lòng Của Doanh Nghiệp

Sự hài lòng của doanh nghiệp được định nghĩa là cảm giác tích cực khi so sánh dịch vụ thuế nhận được với mong đợi ban đầu. Các yếu tố như chất lượng dịch vụ, tính hiệu quả và sự an toàn sẽ được xem xét.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Dịch Vụ Thuế Trực Tuyến

Dịch vụ thuế trực tuyến không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao tính minh bạch trong quy trình kê khai thuế. Điều này góp phần tạo dựng niềm tin cho doanh nghiệp đối với cơ quan thuế.

II. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Hài Lòng Của Doanh Nghiệp

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến. Những nhân tố này bao gồm chất lượng dịch vụ, tính hiệu quả, và sự an toàn thông tin. Việc hiểu rõ các nhân tố này sẽ giúp cơ quan thuế cải thiện dịch vụ của mình.

2.1. Chất Lượng Dịch Vụ

Chất lượng dịch vụ là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự hài lòng. Doanh nghiệp mong muốn nhận được dịch vụ nhanh chóng, chính xác và hiệu quả từ cơ quan thuế.

2.2. Tính Hiệu Quả Của Dịch Vụ

Tính hiệu quả của dịch vụ thuế trực tuyến được đánh giá qua thời gian xử lý và khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Một dịch vụ hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí.

2.3. An Toàn Thông Tin

An toàn thông tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Doanh nghiệp cần cảm thấy an tâm khi cung cấp thông tin nhạy cảm cho cơ quan thuế qua dịch vụ trực tuyến.

III. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Dịch Vụ Thuế Trực Tuyến

Mặc dù dịch vụ thuế trực tuyến đã mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề và thách thức. Doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ này một cách hiệu quả.

3.1. Khó Khăn Trong Việc Sử Dụng Dịch Vụ

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa quen với việc sử dụng dịch vụ thuế trực tuyến, dẫn đến việc không khai thác hết tiềm năng của dịch vụ này.

3.2. Thiếu Niềm Tin Vào An Ninh Thông Tin

Một số doanh nghiệp vẫn lo ngại về vấn đề an ninh thông tin khi sử dụng dịch vụ thuế trực tuyến, điều này ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Sự Hài Lòng Của Doanh Nghiệp

Để nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến, cần có những giải pháp cụ thể. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn tạo dựng niềm tin cho doanh nghiệp.

4.1. Cải Thiện Chất Lượng Dịch Vụ

Cần nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc đào tạo nhân viên và cải tiến quy trình làm việc. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp cảm thấy hài lòng hơn khi sử dụng dịch vụ.

4.2. Tăng Cường An Ninh Thông Tin

Cần đầu tư vào công nghệ bảo mật để đảm bảo an toàn thông tin cho doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp tăng cường niềm tin của doanh nghiệp vào dịch vụ thuế trực tuyến.

V. Kết Luận Về Sự Hài Lòng Của Doanh Nghiệp Đối Với Dịch Vụ Thuế Trực Tuyến

Sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến là một yếu tố quan trọng trong việc cải cách hành chính. Việc nâng cao sự hài lòng không chỉ giúp cải thiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

5.1. Tương Lai Của Dịch Vụ Thuế Trực Tuyến

Dịch vụ thuế trực tuyến sẽ tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn trong tương lai, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cải Cách

Cần có những chính sách cải cách phù hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ thuế trực tuyến, từ đó nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ nhân tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế trực tuyến của cơ quan thuế nghiên cứu trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về sự hài lòng đối với dịch vụ công trực tuyến 1. Dịch vụ công trực tuyến và sự hài lòng đối với dịch vụ công trực tuyến Sự tiến bộ to lớn“của công nghệ thông tin và truyền thông và sự triển khai của nó trong khu vực công đã đóng một vai trò quan trọng trong”nỗ lực của chính phủ nhằm thực hiện cải cách khu vực công (Yong và Koon, 2003). Một số học giả cho rằng“việc sử dụng công nghệ thông tin trong”lĩnh vực công là cuộc cách mạng thứ hai trong quản lý công khai.

Công nghệ thông tin và truyền thông tìm cách biến đổi không chỉ cách thức phân phối dịch vụ công mà còn“làm thay đổi mối quan hệ cơ bản giữa chính phủ và công dân”(Saxena, 2005). Tuy nhiên, có những người khác coi“dịch vụ công trực tuyến như là một tiểu nhóm và thúc đẩy cải cách khu vực công (Yong và Koon, 2003). Vì mục tiêu của dịch vụ công trực tuyến là nâng cao hiệu quả và hiệu quả của khu vực công trong các dịch vụ công cộng (Criado và cộng sự, 2002). Nói một cách khác, việc áp dụng dịch vụ công trực tuyến trong khu vực công là chủ yếu”liên quan đến việc mở rộng và làm sâu sắc thêm các cải cách.

Theo Howard (2001), dịch vụ công trực tuyến là một sự tiến hóa tự nhiên của phương pháp phân phối dịch vụ như là một phản ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và xã hội rộng lớn hơn. Giống như bất kỳ khái niệm quản lý và thực hành nào khác trong hành chính công, khái niệm về dịch vụ công trực tuyến có gốc rễ trong việc áp dụng“thương mại điện tử và thương mại điện tử”của khu vực tư nhân (Moon, 2002). Do đó, sự chuyển dịch sang dịch vụ công trực tuyến được đặc trưng bởi việc chuyển giao“các dịch vụ công của trung tâm chính phủ sang hệ thống công dân chủ động và đáp ứng chủ động hơn (Karunasena và Deng, 2012), nơi thông tin và dịch vụ của chính phủ được cung cấp trực tuyến thông qua việc sử dụng công”nghệ. Hơn nữa, West (2004) lập luận rằng, không giống như hệ thống“cung cấp dịch vụ thông thường, dịch vụ công trực tuyến là không phân cấp, phi tuyến và có sẵn 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần, cho phép công dân có được thông tin và dịch vụ thuận tiện cho thời gian và địa điểm của họ.

Do đó, dịch vụ công trực tuyến được xem là cách hứa hẹn để cải thiện việc cung cấp dịch vụ”công cộng (West, 2004) và được coi là một công cụ phát triển cho người dân. Ngày nay, tổng chi tiêu cho“công nghệ thông tin trên toàn thế giới ước tính khoảng”3,6 nghìn tỷ đô la (Katre và cộng sự, 2010). Hơn nữa, thế giới đã chứng kiến sự cải thiện“trong chỉ số dịch vụ công trực tuyến trong những năm qua, do đó phản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ánh sự tiến bộ trong việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến ở các quốc gia khác nhau (UN, 2012). Tuy nhiên, bất chấp sự tiến bộ trong chỉ số dịch vụ công trực tuyến toàn cầu, vẫn còn sự mất cân bằng trong phân chia kỹ thuật số và tiến độ trong việc thực hiện các sáng kiến dịch vụ công”trực tuyến giữa các nước phát triển và đang phát triển (UN, 2012).

Ví dụ, khảo sát dịch vụ công trực tuyến LHQ năm 2012 cho thấy rằng tất cả 20 quốc gia đứng đầu trong bảng xếp hạng dịch vụ công trực tuyến là các nước có thu nhập cao, Hàn Quốc dẫn đầu xếp hạng theo sau là Hà Lan, Vương quốc Anh và Đan Mạch (UN, 2012). Hơn nữa, việc thực hiện các sáng kiến của“dịch vụ công”trực tuyến ở các nước đang phát triển được đặc trưng bởi tỷ lệ thất bại cao hơn. Sự mất cân bằng trong sáng kiến“dịch vụ công”trực tuyến ở các nước đang phát triển có liên quan đến các rào cản về cơ sở hạ tầng, thể chế, tài chính và quy định (UN, 2012). Tuy nhiên, do Chính phủ các nước nhìn thấy“những lợi ích tiềm năng của việc áp dụng dịch vụ”công trực tuyến, các nước đang phát triển đang nỗ lực phối hợp để bắt đầu dịch vụ công trực tuyến và kết quả là ngày nay, tất cả 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã đưa ra sáng kiến“dịch vụ công trực tuyến và đang trong các giai đoạn cung cấp”dịch vụ trực tuyến (UN, 2012).

Vì vậy, làm cho dịch vụ công trực tuyến trở thành hiện tượng toàn cầu. Mặc dù“dịch vụ công trực tuyến đã trở thành một từ thông”dụng chính và là chương trình chính sách quan trọng được hầu hết các chính phủ trên khắp thế giới theo đuổi, bản thân khái niệm vẫn còn mơ hồ không có định nghĩa tiêu chuẩn duy nhất để đại diện cho ý nghĩa của nó. Yildiz (2007) cho rằng dịch vụ công trực tuyến là một khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do đó tạo ra nhiều ý nghĩa tùy thuộc vào loại công nghệ được sử dụng, trọng tâm, mục đích mà nó dự định đạt được khi triển khai và lợi ích mong đợi. UN-ASPA (2002) định nghĩa“dịch vụ công trực tuyến là việc sử dụng internet để cung cấp thông tin và dịch vụ của Chính phủ cho công dân.

Định nghĩa này giới hạn phạm vi của dịch vụ công trực tuyến đối với việc cung cấp thông tin và dịch vụ của chính phủ đối với hệ thống”internet, dựa trên web và bỏ qua cách tiếp cận đa kênh đối với việc phân phối dịch vụ điện tử của chính phủ. Mặt khác, OECD (2001) định nghĩa dịch vụ công trực tuyến“là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông đặc biệt là internet như một công cụ để đạt được hiệu quả quả tốt hơn.”Trọng tâm của định nghĩa này là“để đạt được hiệu quả trong việc cải thiện của chính phủ để cung cấp các dịch vụ của mình thông qua sử dụng công”nghệ thông tin. Tương tự như vậy, định nghĩa dịch vụ công trực tuyến của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh hơn vào việc thúc đẩy“mối quan hệ và tương tác giữa chính phủ, công dân, doanh nghiệp, trong chính phủ thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin để đạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 được hiệu quả, minh bạch, chính phủ đáp ứng tốt hơn cho việc cung cấp các dịch vụ của chính phủ”(www. Để phù hợp với“sự phổ biến của dịch vụ công trực tuyến tại các nước đang phát triển, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về dịch vụ công trực tuyến, tuy nhiên các định nghĩa này”khác nhau theo trọng tâm dịch vụ công trực tuyến khác nhau và thường tập trung vào công nghệ, kinh doanh, quy trình, công dân, chính phủ hoặc quan điểm chức năng (Al-Shafi, 2007).

Al-Shafi cũng chỉ ra rằng giống như kinh doanh điện tử, dịch vụ công trực tuyến hứa hẹn cung cấp một số lợi ích cho công dân, doanh nghiệp và chính phủ. Những lợi ích quan trọng nhất của“dịch vụ công trực tuyến theo như các nghiên cứu trước đó là: cung cấp dịch vụ điện tử và tích hợp công cộng”thông qua một điểm truy cập duy nhất vào các dịch vụ công cộng 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần; bắc cầu phân chia kỹ thuật số nơi mọi công dân trong xã hội sẽ được cung cấp cùng loại thông tin và dịch vụ từ chính phủ; xây dựng lại mối quan hệ khách hàng bằng cách cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng và cá nhân hóa cho công dân; bồi dưỡng phát triển kinh tế và giúp các doanh nghiệp địa phương mở rộng ra toàn cầu; giảm cơ hội tham nhũng trong chính phủ; và tạo ra một hình thức tham gia nhiều hơn của chính phủ bằng cách khuyến khích tranh luận trực tuyến, bỏ phiếu và trao đổi thông tin. Cùng quan điểm nói trên, trong nghiên cứu của mình Saha và cộng sự (2012) cũng cho rằng dịch vụ công trực tuyến là quá trình theo đó thông tin và dịch vụ được cung cấp thông qua môi trường trực tuyến cho khách hàng của mình, bao gồm công dân, doanh nghiệp và quản lý công chúng như nhau. Các giao dịch chính phủ điện tử là sử dụng công nghệ internet thông qua giao diện dựa trên web, cho phép mọi người có quyền truy cập vào tài nguyên và dịch vụ mọi lúc, mọi nơi.

Bên cạnh đó, mục đích của các trang web dịch vụ công trực tuyến là công cụ cung cấp quản lý hiệu quả thông tin của chính phủ cho mọi công dân, cung cấp dịch vụ tốt hơn cho cộng đồng và trao quyền cho mọi người thông qua tiếp cận thông tin và tham gia vào việc ra quyết định công khai. Nghiên cứu cũng thừa nhận quan điểm rằng các trang web thành công sẽ cho phép công chúng tìm kiếm thông tin yêu cầu một cách nhanh chóng và dễ dàng tìm kiếm. Do đó, chức năng tìm kiếm, chức năng và điều hướng trở nên quan trọng đối với việc thực hiện các trách nhiệm đó. “Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới mô tả dịch vụ công trực tuyến (E-gov) là việc sử dụng Internet và trang web để cung cấp thông tin và dịch vụ của chính phủ cho công dân”và các bên liên quan khác trong một quốc gia (InfoDev, 2004).“Dịch vụ công trực tuyến cho phép các dịch vụ của chính”phủ trở nên hiệu quả hơn và dễ tiếp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cận hơn với công dân (Fountain, 2001; Moon, 2002; West, 2004).

Dữ liệu thực nghiệm từ các cơ quan quốc tế, tổ chức tư vấn và“nghiên cứu khoa học”cho thấy dịch vụ công trực tuyến đã trở thành hiện tượng toàn cầu với gần như tất cả các chính phủ trên thế giới áp dụng nó để thúc đẩy sự tham gia và trao quyền công dân (West, 2004; Karunasena và cộng sự, 2011). Mặc dù“dịch vụ công trực tuyến”đã phổ biến trên toàn thế giới, tuy nhiên các nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến“dịch vụ công trực tuyến và các báo cáo của các cơ quan”quốc tế đã chỉ ra rằng các nền kinh tế chuyển đổi và các“nước đang phát triển trên toàn thế giới”tụt hậu so với các nước tiên tiến liên quan đến việc triển khai và sử dụng các cơ sở dữ liệu điện tử của Chính phủ. Nói cách khác, các“quốc gia có nền kinh tế phát triển”hơn thường ứng dụng hoặc chấp nhận các sáng kiến và kế hoạch về dịch vụ công trực tuyến tiên tiến hơn (West, 2004; Azad và cộng sự, 2010).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ