CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY CÓ LIÊN QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN Trong chương này, tác giả tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng nguyên tắc thận trọng. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra khe hổng nghiên cứu của luận văn. Như vậy, nội dung của chương này bao gồm: - Tổng quan các nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng nguyên tắc thận trọng; - Khe hổng nghiên cứu của luận văn.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây giải thích việc áp dụng nguyên tắc thận trọng 1. Nghiên cứu tại Việt Nam Đến thời điểm thực hiện luận văn, tác giả chỉ tổng hợp được hai bài nghiên cứu khoa học về nguyên tắc thận trọng tại Việt Nam. Cụ thể là nghiên cứu của Nguyễn Thục Anh (2016) trong bài viết “Thận trọng - Cách nhìn mới từ Chuẩn mực Kế toán quốc tế” và nghiên cứu của Lê Vũ Trường (2016) trong bài viết “Áp dụng IFRS ở Việt Nam – Cơ hội và Thách thức”. Nguyễn Thục Anh (2016) trong bài viết “Thận trọng - Cách nhìn mới từ Chuẩn mực Kế toán quốc tế” làm rõ sự thay đổi về khái niệm thận trọng trong quy định của Hội đồng CMKT quốc tế cũng như phân tích tác động của nó trong quá trình cân nhắc xây dựng hệ thống CMKT Việt Nam phù hợp với CMKT quốc tế.
Theo đó, ông cho rằng do kết quả áp dụng nguyên tắc Thận trọng (bất cân xứng) mà các quy định về kế toán hiện nay đang ghi nhận tài sản và thu nhập chậm hơn ghi nhận nợ phải trả và chi phí. Cách ghi nhận này có những tác dụng nhất định làm giảm chi phí người đại diện do những tác động mang tính cảnh báo sớm rủi ro cho cổ đông, chủ nợ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Một bài nghiên cứu khác của tác giả Lê Vũ Trường (2016) cũng có đề cập đến nguyên tắc thận trọng trong kế toán nhưng chỉ ở khía cạnh giải thích về sự tác động của văn hóa người Việt đến việc xây dựng hệ thống CMKT Việt Nam (trong đó có nguyên tắc thận trọng) phù hợp hơn với IAS/IFRS. Theo đó, ông cho rằng văn hoá của người Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn, đề cao việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
Đặc điểm văn hoá này là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp và rất quan trọng đến việc VAS chưa áp dụng hoàn toàn IAS/IFRS, việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán do đó nên được thực hiện theo lộ trình, nên để các doanh nghiệp lớn (niêm yết) áp dụng IFRS đầy đủ trước rồi mới đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, nên rất cần có thời gian chuẩn bị cả về mặt nhân lực kế toán và tài chính. Như vậy, có thể thấy rằng cả hai nghiên cứu trên đều không có sự đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng việc áp dụng nguyên tắc thận trọng tại Việt Nam. Nghiên cứu trên thế giới Nguyên tắc thận trọng là chủ đề đã được thảo luận từ khá lâu trong nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, chẳng hạn như Anh, Mỹ, Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc, v. Các nghiên cứu này tìm hiểu và giải thích nhiều khía cạnh khác nhau của nguyên tắc thận trọng, trong đó có một số nghiên cứu trình bày và giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng nguyên tắc thận trọng.
Sau khi tổng hợp, tác giả nhận thấy đa phần các nghiên cứu này đều đề cập đến ảnh hưởng của bốn nhân tố sau đến việc áp dụng nguyên tắc thận trọng: quan hệ hợp đồng, quy định kế toán, thuế và nguy cơ kiện tụng. Từng nhân tố này được tổng hợp và trình bày ở phần bên dưới. Quan hệ hợp đồng (contracting relationship) 7 Chi tiết về từng công trình nghiên cứu liên quan về nguyên tắc thận trọng được trình bày ở Phụ lục 1. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Phần lớn các nghiên cứu giải thích việc áp dụng nguyên tắc thận trọng xuất phát từ quan hệ hợp đồng của công ty, chẳng hạn như các nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (2002), Watts (2003a, 2003b), Ball và cộng sự (2008), Zhang (2008), Wittenberg-Moerman (2008), v.
Các nghiên cứu này đều đưa ra các lập luận hoặc/và bằng chứng thực nghiệm giải thích việc áp dụng nguyên tắc thận trọng dựa trên các mối quan hệ hợp đồng của công ty. Theo đó, đa phần các nghiên cứu đều dựa trên lập luận cho rằng động lực chính của yêu cầu áp dụng nguyên tắc thận trọng trong quan hệ hợp đồng đó là để giảm chi phí ủy nhiệm và điều chỉnh các động cơ của bên được ủy nhiệm cho phù hợp với bên ủy nhiệm. Watts (2003) cho rằng các đối tượng sử dụng BCTC sẽ được hưởng lợi từ báo cáo được lập theo nguyên tắc thận trọng và do đó họ yêu cầu áp dụng nguyên tắc thận trọng trong việc lập và trình bày BCTC. Trong mối quan hệ hợp đồng giữa cổ đông và nhà quản trị, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát giữa các cổ đông và nhà quản trị tạo ra các chi phí ủy nhiệm (Jensen và Meckling, 1976).
Để giảm chi phí ủy nhiệm này, các cổ đông tạo các thỏa thuận hợp đồng với nhà quản trị, trong đó yêu cầu áp dụng nguyên tắc thận trọng trong việc lập và trình bày BCTC (được khẳng định trong các nghiên cứu của Watts (2003), LaFond và Roychowdhury (2008), v. Nghiên cứu của Ahmed và Duellman (2007) cũng cung cấp bằng chứng cho rằng chất lượng điều hành công ty có liên hệ mật thiết với mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng. Những phát hiện này cho thấy các công ty có chất lượng điều hành cao hơn sẽ có mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng cao hơn để nâng cao hiệu quả giám sát của cổ đông. Các nghiên cứu của Beekes và cộng sự (2004), LaFond và Roychowdury (2006) và Lim (2006) cũng cho kết quả tương tự.
Trong mối quan hệ hợp đồng giữa chủ nợ và cổ đông của công ty, các chủ nợ cũng có thể hưởng lợi từ nguyên tắc thận trọng, bởi vì các thỏa thuận hoàn trả của họ không liên quan đến hiệu quả hoạt động của công ty. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh lợi ích của nguyên tắc thận trọng đối với hiệu quả của các hợp đồng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 vay nợ. Wittenberg-Moerman (2008) lập luận rằng việc áp dụng nguyên tắc thận trọng làm giảm mức độ bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và chủ nợ. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (2002), Zhang (2008) chứng minh rằng việc áp dụng nguyên tắc thận trọng có thể làm giảm chi phí đi vay, đây có thể được xem là ưu đãi của các chủ nợ trong việc khuyến khích các công ty áp dụng nguyên tắc thận trọng.
Dựa trên quan hệ hợp đồng của cổ đông, nhà quản trị và chủ nợ của công ty, Watts (2003a) đã chi tiết yếu tố hợp đồng thành ba lý thuyết khác nhau để giải thích việc áp dụng nguyên tắc thận trọng, đó là: lý thuyết về nợ vay (debt theory), lý thuyết về thù lao quản lý (compensation theory) và lý thuyết điều hành (governance theory) trong quan hệ hợp đồng. Các lý thuyết này sẽ được trình bày chi tiết ở chương 2 và được dùng làm căn cứ để xây dựng mô hình nghiên cứu của luận văn. Bên cạnh các công trình nghiên cứu được dẫn trên, còn có một số nghiên cứu khác thảo luận về ảnh hưởng của quan hệ hợp đồng đến việc áp dụng nguyên tắc thận trọng ở nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau, chẳng hạn như các nghiên cứu của Ball và cộng sự (2000), Beatty và cộng sự (2008), Beekes và cộng sự (2004), v. Các chủ đề cũng như kết quả nghiên cứu của từng công trình nghiên cứu này được trình bày tóm tắt ở phần phụ lục 1.
Quy định kế toán (accounting regulations) Quy định kế toán cũng được nhiều nghiên cứu chứng minh là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng nguyên tắc thận trọng, chẳng hạn như các nghiên cứu của Watts (2003a), Bushman và Piotroski (2006), Qiang (2007) v. Một số quốc gia có các quy định yêu cầu công ty phải áp dụng nguyên tắc thận trọng trong việc lập và trình bày BCTC. Sự khác biệt trong các thể chế, hệ thống tư pháp giữa các quốc gia khác nhau tạo ra các chi phí chính trị khác nhau cho các nhà lập quy. Watts (2003a) lập luận rằng các cơ quan lập quy ở các nước có hệ thống tư pháp chặt chẽ hơn phải đối mặt với áp lực chính trị cao hơn và có nhiều nguy cơ hơn trong việc phải chịu sự chỉ trích từ công chúng về những quy định không phù hợp mà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 họ đặt ra.
Do đó mà, để giảm chi phí chính trị và bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, các cơ quan này yêu cầu việc áp dụng nguyên tắc thận trọng đối với các công ty trong việc lập và trình bày BCTC. Lập luận này cũng được trình bày trong các nghiên cứu của Ball và cộng sự (2000), Holthausen (2003), Ball và cộng sự (2003), Huijgen và Lubberink (2005) v. Nghiên cứu của Bushman và Piotroski (2006) cũng chứng minh rằng công ty ở các nước có hệ thống tư pháp chặt chẽ có xu hướng ghi nhận những thông tin làm giảm thu nhập và tài sản nhanh hơn so với công ty ở các nước có hệ thống tư pháp yếu hơn, tức là mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng ở những nước có hệ thống tư pháp chặt chẽ là cao hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu của Ball (2001), Ball và Shivakumar (2005), Basu (2005) và Qiang (2007) cho thấy rằng quy định kế toán chỉ có liên quan đến nguyên tắc thận trọng không điều kiện mà không có sự liên quan đến nguyên tắc thận trọng có điều kiện.
Theo đó, quy định kế toán thông thường yêu cầu các công ty áp dụng một mức độ thận trọng không điều kiện nhất định thông qua các tiêu chuẩn ghi nhận kế toán dựa trên giá gốc, không cho phép vốn hóa chi phí nghiên cứu và phát triển, v. Thuế (taxation) Shackelford và Shevlin (2001) cho rằng các cân nhắc về thuế có sự ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp ghi nhận trong kế toán tài chính.