Chương 1 trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và tại Việt Nam liên quan đến ba nội dung là: (1) Các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL; (2) Các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến thành quả hoạt động; (3) Tác động của việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động. Qua đó, tác giả rút ra nhận xét về các nghiên cứu trước, tìm khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động 1. Công trình nghiên cứu về các nhân tố bên ngoài và bên trong DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL 1.
Các nhân tố bên ngoài DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL Theo Gordon và Narayanan (1984), môi trường kinh doanh bên ngoài DN là một biến ngữ cảnh, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực KT/KTQT dựa trên lý thuyết bất định. Khía cạnh được tập trung xem xét rộng rãi nhất của môi trường bên ngoài DN là sự không chắc chắn (sự khó đoán trước được về môi trường bên ngoài). Trong kế toán, sự không chắc chắn có liên quan đến tính hữu ích của thông tin phạm vi rộng và nó được thể hiện qua tính cạnh tranh, sự khó dự đoán trước của mô trường bên ngoài cùng các yếu tố thay đổi (Gordon & Narayanan, 1984. Qua khảo cứu các nghiên cứu trước, khi xem xét tác động giữa các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài với vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả cho thấy, nhân tố được đề cập nhiều nhất là mức độ cạnh tranh và cảm nhận về tính không chắc chắn của môi trường (PEU) (Phụ lục 1.
[1] Mức độ cạnh tranh và vận dụng kỹ thuật KTQTCL Cạnh tranh là điều tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Cường độ cạnh tranh là mức độ ảnh hưởng bên ngoài đe dọa sự thành công của các tổ chức (Mia và Clarke, 1999). Khi hoạt động trong thị trường cạnh tranh các DN phải luôn phải theo dõi sự thay đổi, những bất ổn của môi trường để đưa ra những quyết sách phù hợp, vì thế mà một hệ thống kiểm soát và các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn là rất cần thiết ( Libby và Waterhouse, 1996; Anderson và Lanen, 1999). Khi mức độ cạnh tranh cao, để giảm thiểu các mối đe dọa từ phía bên ngoài và tăng lợi thế cạnh tranh, các DN cần tập trung vào khách hàng; phân tích hiệu quả hoạt động của khách hàng theo cách phù hợp nhằm hiểu rõ khách hàng và tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng (Kohli và Jaworski 1990); ngoài ra Cescon và cộng sự (2019) nhận thấy ngoài việc tập trung vào khách hàng, các DN cần phải còn phải xét đến ảnh hưởng của nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, sản phẩm thay thế trên thị trường, đây cũng là yếu tố quan luan an 7 trọng để tạo lợi thế cạnh tranh.
Do đó, khi môi trường cạnh tranh của DN trở nên khốc liệt, cần phải có một hệ thống kiểm soát và các kỹ thuật KTQTCL để giúp cho việc cải thiện quá trình ra quyết định quản lý của DN. Trong các nghiên cứu thực nghiệm, mức độ cạnh tranh đã được đo lường khác nhau và kết quả tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL cũng có sự không thống nhất, cụ thể: Guilding và McManus (2002) đã điều tra ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh và định hướng thị trường đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL (nhóm kế toán khách hàng) tại 124 DNSX niêm yết Úc. Guilding và McManus đã xem xét nhân tố mức độ cạnh tranh thông qua thang đo Likert 7 mức độ, với 5 biến quan sát (cạnh tranh để bán và phân phối sản phẩm; về chất lượng; sự đa dạng của sản phẩm và giá cả; thị phần sản phẩm; dịch vụ khách hàng). Sử dụng PPNC định lượng và phân tích hồi quy, với dữ liệu được khảo sát qua thư gửi đến 95 kế toán trưởng và 53 giám đốc marketing của các DN này.
Kết quả nghiên cứu xác định: mức độ cạnh tranh của thị trường ảnh hưởng thuận chiều đến việc sử dụng một trong năm kỹ thuật kế toán khách hàng (Phân tích lợi nhuận của phân khúc khách hàng) tại các DN Úc. Cũng tại Úc, McManus (2013) khi khảo sát trực tiếp 165 nhà quản trị các DN kinh doanh khách sạn, để kiểm định tác động các nhân tố ngẫu nhiên (cạnh tranh, PEU, định hướng thị trường, cơ cấu tổ chức và CLKD) tới việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL. PPNC định lượng và phân tích mô hình cấu trúc SEM được sử dụng, qua đó, McManus (2013) cũng khẳng định một số kỹ thuật KTQTCL (kế toán khách hàng) bị ảnh hưởng bởi mức độ cạnh tranh, nghĩa là ở các DN kinh doanh khách sạn có mức độ cạnh tranh cao hơn thì các kỹ thuật kế toán khách hàng được vận dụng nhiều hơn. Tương tự như Guilding và McManus (2002); McManus (2013), nghiên cứu của Cescon và cộng sự (2019) cũng xem xét tác động giữa mức độ cạnh tranh gồm 5 biến quan sát (mối đe dọa gia nhập, mối đe dọa của sản phẩm thay thế, quyền lực của người mua, quyền lực của nhà cung cấp, và cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh) với việc vận dụng 12 kỹ thuật KTQTCL tại 55 DNSX lớn của Ý.
Sử dụng PPNC định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, thực hiện khảo sát và phỏng vấn tám chuyên gia là các CFO và CEO trong bốn ngành công nghiệp khác nhau, nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng việc vận dụng các kỹ thuật KTQTCL tại các DNSX Ý bị tác động bởi mức độ cạnh tranh cụ thể: (i) Mối đe dọa gia nhập tác động tích cực đến việc sử dụng kỹ thuật định giá chiến lược, BSC; (ii) Mối đe dọa của sản phẩm thay thế có ảnh hưởng đáng kể đến sử dụng kỹ thuật về chi phí vòng đời, BSC; (iii) Quyền lực nhà cung cấp có ảnh hưởng tích cực đến sử dụng định giá chiến lược; (iv) Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh làm tăng việc sử dụng các kỹ thuật như chi phí mục tiêu, BSC. Tại Palestine, một quốc gia đang phát triển, kết quả nghiên cứu của Ojra (2014) khi thực hiện điều tra tác động giữa các nhân tố ngẫu nhiên (mức độ cạnh tranh, PEU, CLKD, quy luan an 8 mô, công nghệ, cơ cấu tổ chức) với vận dụng 16 kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động. Dữ liệu khảo sát tại 175 DN lớn nhất của Palestine và sử dụng PPNC định lượng, phân tích mô hình cấu trúc SEM để thực hiện nghiên cứu. Ojra xem xét tác động của mức độ cạnh tranh với vận dụng KTQTCL và cho thấy cũng có kết quả tương đồng với kết quả các nghiên cứu tại Úc, Ý như trình bày ở trên, khi khẳng định mức độ cạnh tranh càng gia tăng thì mức độ sử dụng kỹ thuật KTQTCL (kỹ thuật kế toán đối thủ cạnh tranh, kỹ thuật kế toán khách hàng) càng nhiều trong các DN Palestine.
Tuy nhiên, trong phạm vi các DN Canada hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, Quon (2020) khảo sát tại 101 DN có quy mô từ nhỏ đến rất lớn của Canada, cho thấy mặc dù có mức độ tương quan đáng kể nhưng lại không có bằng chứng để khẳng định rằng mức độ cạnh tranh càng cao thì DN càng vận dụng nhiều kỹ thuật KTQTCL. [2] Cảm nhận về tính không chắc chắn của môi trường (PEU) và vận dụng kỹ thuật KTQTCL Môi trường kinh doanh bên ngoài DN với sự thay đổi không ngừng, do đó sự cảm nhận về tính không chắc chắn của môi trường (PEU) được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm xem xét trong quá trình ra quyết định chiến lược với mục tiêu điều chỉnh các hoạt động của DN cho phù hợp với các cơ hội của môi trường. PEU có liên quan đến việc các nhà quản trị không dự đoán chính xác được các hành động liên quan đến đối thủ cạnh tranh trên thị trường, nhu cầu khách hàng, những thay đổi của yếu tố kinh tế, công nghệ và pháp lý. Nhiều học giả cho rằng môi trường bên ngoài mà các nhà quản trị phản ứng lại là môi trường mà họ cảm nhận được chứ không phải môi trường thực tế bên ngoài, và khi các nhà quản trị càng nhận thức được ảnh hưởng của PEU đối với hoạt động của DN, họ càng cần phải sử dụng các thông tin của KTQTCL nhiều hơn để cung cấp thêm thông tin tài chính, phi tài chính, thông tin bên ngoài, giúp nhà quản trị có thể chủ động đối phó với các tình huống không chắc chắn của môi trường kinh doanh.
Do vậy PEU được xem là một yếu tố dẫn đến sự thay đổi thiết kế hệ thống thông tin KTQTCL (McManus, 2013). Pavlatos (2015) tiến hành điều tra tác động giữa các nhân tố ngẫu nhiên đến vận dụng 11 kỹ thuật KTQTCL và hiệu quả tài chính quá khứ tại 106 khách sạn hàng đầu Hy Lạp. Bằng PPNC định lượng, sử dụng mô hình PLS SEM, Pavlatos đã xem xét nhân tố PEU, sử dụng thang đo Likert 7 mức độ với 6 biến quan sát (cạnh tranh về giá, môi trường kinh tế bên ngoài, sự xuất hiện của dịch vụ mới, hoạt động của đối thủ cạnh tranh, thị hiếu khách hàng, ràng buộc về luật pháp, quản lý nhà nước và kinh tế). Kết quả nghiên cứu tiết lộ PEU có tác động thuận chiều đến kỹ thuật KTQTCL, nghĩa là khi mức bất ổn môi trường càng cao thì kỹ thuật KTQTCL được DN sử dụng nhiều hơn để giảm sự không chắc chắn và cải tiến việc ra quyết định quản trị, lên kế hoạch quản trị và kiểm soát.
Điều này cũng đúng như kết quả công bố của Cescon và cộng sự (2019) tại Ý, khi thấy có sự tác động tích cực, thuận chiều luan an 9 của PEU đến vận dụng KTQTCL. PEU cao làm tăng cường vận dụng kỹ thuật KTQTCL và làm tăng hiệu quả hoạt động (Al-Mawali, 2015). Trái ngược với các kết quả kể trên, McManus (2013) khi khảo sát tại 165 cơ sở kinh doanh khách sạn lớn của Úc. McManus (2013) xem xét PEU thông qua thang đo Likert 7 mức độ, với 5 biến quan sát (các yếu tố bên ngoài: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, quản lý nhà nước, và công nghệ), lại kết luận rằng chưa có cơ sở để khẳng định là PEU có tác động thuận chiều với vận dụng các kỹ thuật KTQTCL.
Điều này lại tiếp tục được Hoque (2004), Ojra (2014), Quon (2020) khẳng định: PEU không dẫn đến việc vận dụng KTQTCL cao hơn trong các công ty tại Úc, Palestine, Canada.