Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

288
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

0.3. Đối tượng nghiên cứu

0.4. Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Những đóng góp của nghiên cứu

0.7. Kết cấu của luận án

1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1. Các nghiên cứu của nước ngoài

1.1.1. Các nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy thực hiện KTLT

1.1.2. Nhu cầu của NSD trong việc được cung cấp thông tin tin cậy bởi KTLT theo thời gian thực (real-time information)

1.1.3. Nhu cầu của doanh nghiệp và KTV về KTLT

1.1.3.1. Nhu cầu của doanh nghiệp về KTLT
1.1.3.2. Nhu cầu của KTV về KTLT

1.1.4. Điều kiện về HTTT của doanh nghiệp để thực hiện KTLT

1.1.4.1. Hệ thống xử lý trực tuyến – thời gian thực (online real-time systems) và hệ quản trị cơ sở dữ liệu
1.1.4.2. Hệ thống hỗ trợ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP)
1.1.4.3. Nguồn dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ phân tích dữ liệu (Data Analytics)
1.1.4.4. Ngôn ngữ báo cáo kinh doanh mở rộng (eXtensible Business Reporting Language – XBRL)

1.1.5. Các nghiên cứu về trở ngại đối với thực hiện KTLT

1.1.6. Trở ngại về tổ chức và HTTT của doanh nghiệp

1.1.6.1. Những người quản lý cấp cao của doanh nghiệp cho rằng KTLT không cần thiết
1.1.6.2. Tình trạng quá tải thông tin (information overload)
1.1.6.3. Thiếu chuẩn hóa, tính hoạt động của doanh nghiệp

1.1.7. Trở ngại về sự toàn vẹn của HTTT của doanh nghiệp

1.1.8. Trở ngại về nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

1.1.9. Trở ngại về năng lực chuyên môn của KTV

1.1.10. Trở ngại về điều kiện pháp lý

1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2.1. Nhu cầu của nghề nghiệp kiểm toán về KTLT nhằm ứng phó với ảnh hưởng của tiến bộ về CNTT

1.2.2. Nhu cầu của một số doanh nghiệp về KTLT nhằm đáp ứng các yêu cầu tuân thủ và quản trị rủi ro

1.3. Kết quả đạt được của các nghiên cứu trước và khoảng trống lý thuyết

1.3.1. Kết quả đạt được của các nghiên cứu trước

1.3.2. Khoảng trống nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của luận án

2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Một số khái niệm

2.1.1. Khái niệm về kiểm toán

2.1.2. Khái niệm về KTLT

2.1.3. Lịch sử hình thành của KTLT

2.1.3.1. Giai đoạn trước năm 2002
2.1.3.2. Giai đoạn từ năm 2002 cho đến nay

2.1.4. Các cách tiếp cận về công nghệ để thực hiện KTLT

2.1.4.1. Sử dụng chương trình kiểm toán tích hợp
2.1.4.2. Sử dụng chương trình giám sát độc lập

2.1.5. Lợi ích của KTLT

2.1.5.1. Lợi ích của KTLT đối với NSD thông tin được kiểm toán
2.1.5.2. Lợi ích của KTLT đối với doanh nghiệp được kiểm toán
2.1.5.3. Lợi ích của KTLT đối với KTV

2.2. Các lý thuyết nền tảng

2.2.1. Lý thuyết về cung và cầu (Theory of supply and demand)

2.2.2. Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Diffusion of innovation theory)

2.2.3. Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling theory)

2.2.4. Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

2.3. Khung lý thuyết và các khái niệm nghiên cứu

2.3.1. Khung lý thuyết của nghiên cứu

2.3.2. Định nghĩa các khái niệm nghiên cứu

2.4. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu

2.4.1. Mô hình nghiên cứu

2.4.2. Các giả thuyết nghiên cứu

2.4.2.1. Các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của KTLT tại Việt Nam
2.4.2.2. Các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố trở ngại đối với sự hình thành và phát triển của KTLT tại Việt Nam

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu

3.1.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu của luận án

3.1.2. Lựa chọn thiết kế nghiên cứu của luận án

3.2. Thiết kế nghiên cứu của luận án

3.2.1. Nghiên cứu định tính

3.2.1.1. Cách tiếp cận nghiên cứu định tính của luận án
3.2.1.2. Quy trình nghiên cứu định tính

3.2.2. Nghiên cứu định lượng

3.2.2.1. Quy trình nghiên cứu định lượng
3.2.2.2. Xây dựng thang đo nghiên cứu
3.2.2.3. Cấu trúc của bảng câu hỏi khảo sát
3.2.2.4. Kiểm tra sơ bộ giá trị và độ tin cậy của thang đo
3.2.2.5. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu định lượng

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu và thảo luận về sự hình thành của KTLT tại Việt Nam

4.1.1. Sự hình thành của KTLT trong lĩnh vực KTNB tại Việt Nam

4.1.1.1. Đối với các công ty niêm yết không thuộc lĩnh vực tài chính
4.1.1.2. Đối với các ngân hàng và các công ty niêm yết thuộc lĩnh vực tài chính

4.1.2. Sự hình thành của KTLT trong lĩnh vực KTĐL tại Việt Nam

4.1.3. Kết luận chung về sự hình thành của KTLT tại Việt Nam

4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận về nghiên cứu khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của KTLT tại Việt Nam

4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng và thảo luận

4.3.1. Thu thập dữ liệu (khảo sát chính thức)

4.3.2. Phân tích kết quả nghiên cứu

4.3.3. Kết quả nghiên cứu định lượng và thảo luận

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Những đóng góp mới của nghiên cứu

5.2. Một số kiến nghị

5.2.1. Đối với các doanh nghiệp

5.2.2. Đối với các DNKiT

5.2.3. Đối với các tổ chức nghề nghiệp, tổ chức đào tạo

5.2.4. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng đến kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Kiểm toán liên tục (KTLT) đang trở thành một xu hướng quan trọng trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra những cơ hội mới cho việc thực hiện kiểm toán một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, để KTLT có thể phát triển mạnh mẽ, cần phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của nó. Các yếu tố này bao gồm cả điều kiện nội bộ của doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài như quy định pháp lý và nhu cầu của thị trường.

1.1. Khái niệm và vai trò của kiểm toán liên tục

KTLT được định nghĩa là phương pháp kiểm toán cho phép kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểm toán ngay sau khi giao dịch phát sinh. Điều này giúp nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính. KTLT không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn cho các bên liên quan như nhà đầu tư và cơ quan quản lý.

1.2. Tình hình thực hiện kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Tại Việt Nam, KTLT đang dần được áp dụng trong nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt về công nghệ và nguồn lực. Các doanh nghiệp cần phải đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin để có thể thực hiện KTLT một cách hiệu quả.

II. Các thách thức trong việc triển khai kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Mặc dù KTLT mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc triển khai nó tại Việt Nam vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các nhân tố ảnh hưởng như quy định pháp lý, sự chấp nhận của các bên liên quan và khả năng của đội ngũ kiểm toán viên là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Quy định pháp lý và chính sách hỗ trợ

Quy định pháp lý hiện tại chưa hoàn toàn hỗ trợ cho việc thực hiện KTLT. Cần có những chính sách rõ ràng hơn để khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng phương pháp này. Việc thiếu các quy định cụ thể có thể làm giảm tính khả thi của KTLT.

2.2. Sự chấp nhận của các bên liên quan

Sự chấp nhận của các bên liên quan, bao gồm cả nhà đầu tư và cơ quan quản lý, là rất quan trọng. Nếu không có sự tin tưởng vào KTLT, việc triển khai sẽ gặp khó khăn. Cần có các chiến lược truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức về lợi ích của KTLT.

III. Phương pháp triển khai kiểm toán liên tục hiệu quả tại Việt Nam

Để triển khai KTLT một cách hiệu quả, các doanh nghiệp cần áp dụng những phương pháp phù hợp. Việc đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân lực là rất cần thiết. Các nhân tố ảnh hưởng như quy trình làm việc và công nghệ sẽ quyết định sự thành công của KTLT.

3.1. Đầu tư vào công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin là yếu tố then chốt trong việc thực hiện KTLT. Doanh nghiệp cần đầu tư vào các hệ thống quản lý dữ liệu và phần mềm kiểm toán để tự động hóa quy trình kiểm toán. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao độ chính xác của các báo cáo kiểm toán.

3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo đội ngũ kiểm toán viên về KTLT là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế để giúp kiểm toán viên nắm vững các công nghệ mới và phương pháp kiểm toán hiện đại. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực và hiệu quả công việc của họ.

IV. Ứng dụng thực tiễn của kiểm toán liên tục tại Việt Nam

KTLT đã được áp dụng trong nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam và đã mang lại những kết quả tích cực. Các nhân tố ảnh hưởng như sự cải thiện trong quản lý rủi ro và tăng cường tính minh bạch là những lợi ích rõ ràng của KTLT.

4.1. Cải thiện quản lý rủi ro

KTLT giúp doanh nghiệp phát hiện kịp thời các giao dịch bất thường, từ đó nâng cao khả năng quản lý rủi ro. Việc thực hiện kiểm toán thường xuyên giúp doanh nghiệp có thể điều chỉnh kịp thời các chiến lược kinh doanh.

4.2. Tăng cường tính minh bạch

KTLT góp phần nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp xây dựng lòng tin với các bên liên quan mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của kiểm toán liên tục tại Việt Nam

KTLT có tiềm năng lớn để phát triển tại Việt Nam. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý và sự chấp nhận từ các doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng như chính sách và công nghệ sẽ quyết định sự thành công của KTLT trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển KTLT

Trong tương lai, KTLT cần được phát triển theo hướng tích hợp công nghệ mới và cải tiến quy trình kiểm toán. Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm các giải pháp công nghệ để nâng cao hiệu quả kiểm toán.

5.2. Vai trò của các cơ quan quản lý

Các cơ quan quản lý cần có những chính sách hỗ trợ rõ ràng để khuyến khích việc áp dụng KTLT. Việc tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi sẽ giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc triển khai KTLT.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, cho đến nay, đã có khánhiều nghiên cứu trước liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT. Căn cứ để tác giả tổng quan các nghiên cứu trước làdựa trên mục tiêu nghiên cứu đã được xác lập. Theo đó, các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT được phân loại thành hai dòng nghiên cứu chí nh là: (1) dòng nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp, và (2) dòng nghiên cứu về các nhân tố trở ngại bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp đối với sự hình thành vàphát triển của KTLT. Cơ sở cho sự phân loại này dựa trên hai quan điểm như sau: Thứ nhất, KTLT làsự đổi mới về phương pháp luận (cách tiếp cận) kiểm toán so với phương pháp luận kiểm toán truyền thống (Chan & Vasarhelyi, 2011; Kuenkaikaew & Vasarhelyi, 2013).

Như vậy, theo quan điểm này, các nhân tố ảnh hưởng đối với sự hình thành vàphát triển của KTLT cũng có thể được xác định như làcác nhân tố ảnh hưởng đối với sự hì nh thành vàphát triển của một sự đổi mới nói chung trong tổ chức, bao gồm hai loại: (1) các nhân tố thúc đẩy và(2) các nhân tố trở ngại đối với việc áp dụng sự đổi mới đó (Hadjimanolis, 2003; Marinova & Phillimore, 2003). Các nhân tố cóảnh hưởng thúc đẩy được phân loại dựa theo quan điểm được thừa nhận rộng rãi làmọi sự áp dụng đổi mới đều làkết quả của hai động lực bao gồm sự thúc đẩy của tiến bộ công nghệ (technology-push) vàsự “lôi kéo” của nhu cầu và/hoặc tác động của các cơ quan chức năng (demand/regulations-pull) (Chidamber & Kon, 1994; Marinova & Phillimore, 2003). Thứ hai, các doanh nghiệp ngày nay được xem như làmột “thực thể” trong “hệ sinh thái doanh nghiệp”, trong đó các doanh nghiệp phải luôn đổi mới nhằm thí ch nghi (tồn tại vàphát triển) với sự thay đổi liên tục của chí nh bản thân doanh nghiệp vàcủa “hệ sinh thái doanh nghiệp” đó (Moore, 2006; Deloitte, 2016). Theo quan điểm này, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT với tư cách là sự đổi mới gắn liền với các quátrì nh hoạt động của các doanh nghiệp có thể được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 phân loại thành hai loại, bao gồm: (1) các nhân tố bên trong, và(2) các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.1 Các nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy thực hiện KTLT 1.1 Nhu cầu của NSD trong việc được cung cấp thông tin tin cậy bởi KTLT theo thời gian thực (real-time information) Khánhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự ra đời của KTLT làdo nhu cầu của NSD về thông tin liên tục (thông tin được cung cấp hàng tháng, tuần, ngày hoặc theo thời gian thực).

Các nghiên cứu này dựa trên lýthuyết về kinh tế học thông tin cho rằng thông tin đáng tin cậy, đầy đủ, kịp thời sẽ giúp giảm tình trạng bất cân xứng thông tin và do đó sẽ giúp ra quyết định kinh tế phùhợp, giảm thiểu rủi ro (Akerlof, 1970). Năm 1994, AICPA đã thành lập Ủy ban đặc biệt về Các dịch vụ đảm bảo (Special Committee on Assurance Services – Ủy ban Elliott) nhằm nhận diện những nhu cầu của NSD đối với thông tin được cung cấp trong bối cảnh cónhững thay đổi rất nhanh do ảnh hưởng của cạnh tranh vàtiến bộ công nghệ. Ủy ban Elliott đã thực hiện nghiên cứu kéo dài trong hai năm dựa trên phương pháp định tí nh, thông qua phỏng vấn 44 người giữ vai trò là người ra quyết định – những NSD thông tin – cả bên trong vàbên ngoài của các công ty, bao gồm chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, giám đốc CNTT, nhà đầu tư tổ chức, cánhân, cán bộ tín dụng ngân hàng và nhàhoạch định chí nh sách. Kết quả nghiên cứu của Ủy ban Elliott đã xác nhận những kết luận của AICPA (1994), theo đó, bên cạnh thông tin tài chính, NSD thông tin ngày càng quan tâm nhiều hơn vào thông tin phi tài chính để ra quyết định, đồng thời những thông tin đó cần được cung cấp theo thời gian thực (real-time information) thông qua kênh truy cập trực tuyến thay vì dưới nh thức phát hành báo cáo (giấy) định kỳ như kiểm toán truyền thống (AICPA, hì 1997a).

AICPA (1997a) dự báo rằng trong dài hạn, nhu cầu về thông tin theo thời gian thực sẽ dẫn đến thay đổi căn bản trong nhu cầu về các dịch vụ đảm bảo được cung cấp bởi các DNKiT, đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống cóthể sẽ được thay đổi thành hoạt động KTLT nhằm cung cấp thông tin tin cậy theo thời gian thực cho NSD bên ngoài công ty. Năm 2008, AICPA tiếp tục công bố một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 báo cáo nghiên cứu có nhan đề “The Shifting Paradigm in Business Reporting and Assurance” nhằm nhận diện xu hướng phát triển môhì nh báo cáo kinh doanh của các công ty. Luận điểm then chốt của báo cáo nghiên cứu này là, trong tương lai, các thông tin màcông ty cung cấp cho NSD bên ngoài sẽ giảm dần sự khác biệt đáng kể với thông tin được cung cấp cho mục đích quản lý, điều hành trên cả hai phương diện: chủng loại thông tin được cung cấp (tài chí nh vàphi tài chí nh) vàtần suất cung cấp thông tin (định kỳ vàtheo thời gian thực) (AICPA, 2008). Dựa trên sự phát triển của các công ty áp dụng ngôn ngữ XBRL trong việc công bố thông tin tài chí nh nói riêng vàthông tin về hoạt động kinh doanh nói chung, AICPA (2008) dự đoán rằng chỉ trong trung hạn (khoảng 2 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm), nghề nghiệp kiểm toán cần phải cókhả năng chuyển sang cung cấp các dịch vụ đảm bảo mới đó là đảm bảo liên tục ở cấp độ dữ liệu đối với các nguồn dữ liệu được tạo lập trong các công ty nhằm mục đích báo cáo.

Hunton, et al. (2007) thực hiện một nghiên cứu thínghiệm 2 (định kỳ cung cấp thông tin hàng tháng và hàng ngày) x 2 (không đảm bảo và có đảm bảo) trên hai trăm mười lăm học viên cao học quản trị kinh doanh tham gia với tư cách là các kiểm toán viên, kiểm soát viên, nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính. Mục tiêu nghiên cứu lànhằm đánh giá ảnh hưởng của tần suất cung cấp thông tin đến hiệu quả của việc ra quyết định khi tăng tần suất (từ hàng quýchuyển thành hàng tháng, hàng ngày) cung cấp thông tin (có và không có đảm bảo) cho NSD. Kết quả thínghiệm cho thấy, khi các công ty tăng tần suất cung cấp thông tin kể cả được đảm bảo (bởi KTNB) hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 không cho NSD thìNSD đều cảm nhận tí ch hợp của thông tin cao hơn.

Tuy nh thí vậy, NSD không cócảm nhận khác biệt rõrệt về sự thay đổi của tí nh hữu ích khi tăng tần suất cung cấp thông tin được đảm bảo độc lập so với thông tin được đảm bảo (kiểm toán) nội bộ. El-Masry & Reck (2008) đã thực hiện nghiên cứu thínghiệm 2 (thương mại điện tử vàkhông cóthương mại điện tử) x 2 (Rủi ro tài chí nh cao vàrủi ro tài chí nh thấp) x 2 (kiểm toán định kỳ và KTLT) x 2 (năm 2002, trước khi SOX cóhiệu lực và năm 2005, sau khi SOX cóhiệu lực) nhằm đánh giá ảnh hưởng KTLT đến nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro (công nghệ vàtài chí nh) của công ty trong điều kiện tuân thủ SOX. Thínghiệm được thực hiện tại hai thời điểm: năm 2002 với 56 người tham gia và năm 2005 với 82 người, đối tượng tham gia lànhững học viên thuộc các lớp cao học quản trị kinh doanh cókinh nghiệm thực tiễn nói chung và trong lĩnh vực đầu tư nói riêng theo yêu cầu của thínghiệm. Kết quả của thínghiệm cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng đánh giá rủi ro của công ty thấp hơn trong điều kiện công ty áp dụng KTLT sau SOX, và do đó niềm tin của nhà đầu tư cũng gia tăng đáng kể thể hiện trong việc gia tăng quyết định đầu tư mới (mua cổ phiếu) vào công ty.

Tương tự, Farkas & Murthy (2014) thực hiện một thínghiệm 2 (KTLT hoặc GSLT) ×2 (KTV nội bộ hoặc KTV độc lập) theo hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất có 120 người tham gia và giai đoạn thứ hai có 184 người tham gia lànhững nhà đầu tư cánhân (nonprofessional investors) về nhận thức của họ đối với giátrị gia tăng của các hoạt động đảm bảo liên tục được thực hiện bởi KTV (nội bộ và độc lập) vàhoạt động GSLT được thực hiện bởi ban giám đốc công ty. Các kết quả từ cả hai thínghiệm chỉ ra rằng mặc dù các nhà đầu tư cá nhân tin rằng KTLT cóthể làm giảm khả năng sai sót trọng yếu vàphát hiện sớm gian lận, vànhững người tham gia thínghiệm có khuynh hướng tăng đầu tư vào công ty nào màcóáp dụng KTLT, tuy nhiên mức gia tăng là không đáng kể so với trường hợp chỉ kiểm toán báo cáo tài chính định kỳ hàng năm. Kết quả nghiên cứu của Farkas & Murthy (2014) cũng cung cấp một nội dung đáng chú ý là các nhà đầu tư cá nhân cho rằng KTLT nếu được thực hiện, thìchỉ nên bởi KTV nội bộ hơn là bởi KTV độc lập. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Nhu cầu của doanh nghiệp vàKTV về KTLT a) Nhu cầu của doanh nghiệp về KTLT (i) Nhằm đáp ứng các yêu cầu tuân thủ Một dòng nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng KTLT xuất hiện làdo yêu cầu của các doanh nghiệp trong việc giảm nhẹ “gánh nặng” về giám sát việc tuân thủ luật và các quy định.

Daigle & Lampe (2003) đã phân tích các yêu cầu của SOX đối với các công ty niêm yết tại Hoa Kỳ vàchỉ ra rằng, các yêu cầu (được đề cập chủ yếu trong các đoạn 302 và404) sẽ thúc đẩy nhu cầu của các công ty niêm yết đối với hoạt động KTLT. Cũng với quan điểm như vậy, Means & Warren (2005) nhận định rằng do trách nhiệm dân sự vàhình sự khánặng đối những người quản lý, điều hành các công ty niêm yết trong trường hợp họ không tuân thủ SOX. Từ đó đã thúc đẩy các công ty ưu tiên cải thiện các quátrình xử lýtrong nội bộ, chuẩn hóa các thủ tục kiểm soát và hướng đến sử dụng công nghệ để cóthể giám sát kịp thời hơn các hoạt động của công ty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ