phần mở đầu, cho đến nay, đã có khánhiều nghiên cứu trước liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT. Căn cứ để tác giả tổng quan các nghiên cứu trước làdựa trên mục tiêu nghiên cứu đã được xác lập. Theo đó, các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT được phân loại thành hai dòng nghiên cứu chí nh là: (1) dòng nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp, và (2) dòng nghiên cứu về các nhân tố trở ngại bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp đối với sự hình thành vàphát triển của KTLT. Cơ sở cho sự phân loại này dựa trên hai quan điểm như sau: Thứ nhất, KTLT làsự đổi mới về phương pháp luận (cách tiếp cận) kiểm toán so với phương pháp luận kiểm toán truyền thống (Chan & Vasarhelyi, 2011; Kuenkaikaew & Vasarhelyi, 2013).
Như vậy, theo quan điểm này, các nhân tố ảnh hưởng đối với sự hình thành vàphát triển của KTLT cũng có thể được xác định như làcác nhân tố ảnh hưởng đối với sự hì nh thành vàphát triển của một sự đổi mới nói chung trong tổ chức, bao gồm hai loại: (1) các nhân tố thúc đẩy và(2) các nhân tố trở ngại đối với việc áp dụng sự đổi mới đó (Hadjimanolis, 2003; Marinova & Phillimore, 2003). Các nhân tố cóảnh hưởng thúc đẩy được phân loại dựa theo quan điểm được thừa nhận rộng rãi làmọi sự áp dụng đổi mới đều làkết quả của hai động lực bao gồm sự thúc đẩy của tiến bộ công nghệ (technology-push) vàsự “lôi kéo” của nhu cầu và/hoặc tác động của các cơ quan chức năng (demand/regulations-pull) (Chidamber & Kon, 1994; Marinova & Phillimore, 2003). Thứ hai, các doanh nghiệp ngày nay được xem như làmột “thực thể” trong “hệ sinh thái doanh nghiệp”, trong đó các doanh nghiệp phải luôn đổi mới nhằm thí ch nghi (tồn tại vàphát triển) với sự thay đổi liên tục của chí nh bản thân doanh nghiệp vàcủa “hệ sinh thái doanh nghiệp” đó (Moore, 2006; Deloitte, 2016). Theo quan điểm này, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT với tư cách là sự đổi mới gắn liền với các quátrì nh hoạt động của các doanh nghiệp có thể được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 phân loại thành hai loại, bao gồm: (1) các nhân tố bên trong, và(2) các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.1 Các nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy thực hiện KTLT 1.1 Nhu cầu của NSD trong việc được cung cấp thông tin tin cậy bởi KTLT theo thời gian thực (real-time information) Khánhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự ra đời của KTLT làdo nhu cầu của NSD về thông tin liên tục (thông tin được cung cấp hàng tháng, tuần, ngày hoặc theo thời gian thực).
Các nghiên cứu này dựa trên lýthuyết về kinh tế học thông tin cho rằng thông tin đáng tin cậy, đầy đủ, kịp thời sẽ giúp giảm tình trạng bất cân xứng thông tin và do đó sẽ giúp ra quyết định kinh tế phùhợp, giảm thiểu rủi ro (Akerlof, 1970). Năm 1994, AICPA đã thành lập Ủy ban đặc biệt về Các dịch vụ đảm bảo (Special Committee on Assurance Services – Ủy ban Elliott) nhằm nhận diện những nhu cầu của NSD đối với thông tin được cung cấp trong bối cảnh cónhững thay đổi rất nhanh do ảnh hưởng của cạnh tranh vàtiến bộ công nghệ. Ủy ban Elliott đã thực hiện nghiên cứu kéo dài trong hai năm dựa trên phương pháp định tí nh, thông qua phỏng vấn 44 người giữ vai trò là người ra quyết định – những NSD thông tin – cả bên trong vàbên ngoài của các công ty, bao gồm chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, giám đốc CNTT, nhà đầu tư tổ chức, cánhân, cán bộ tín dụng ngân hàng và nhàhoạch định chí nh sách. Kết quả nghiên cứu của Ủy ban Elliott đã xác nhận những kết luận của AICPA (1994), theo đó, bên cạnh thông tin tài chính, NSD thông tin ngày càng quan tâm nhiều hơn vào thông tin phi tài chính để ra quyết định, đồng thời những thông tin đó cần được cung cấp theo thời gian thực (real-time information) thông qua kênh truy cập trực tuyến thay vì dưới nh thức phát hành báo cáo (giấy) định kỳ như kiểm toán truyền thống (AICPA, hì 1997a).
AICPA (1997a) dự báo rằng trong dài hạn, nhu cầu về thông tin theo thời gian thực sẽ dẫn đến thay đổi căn bản trong nhu cầu về các dịch vụ đảm bảo được cung cấp bởi các DNKiT, đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống cóthể sẽ được thay đổi thành hoạt động KTLT nhằm cung cấp thông tin tin cậy theo thời gian thực cho NSD bên ngoài công ty. Năm 2008, AICPA tiếp tục công bố một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 báo cáo nghiên cứu có nhan đề “The Shifting Paradigm in Business Reporting and Assurance” nhằm nhận diện xu hướng phát triển môhì nh báo cáo kinh doanh của các công ty. Luận điểm then chốt của báo cáo nghiên cứu này là, trong tương lai, các thông tin màcông ty cung cấp cho NSD bên ngoài sẽ giảm dần sự khác biệt đáng kể với thông tin được cung cấp cho mục đích quản lý, điều hành trên cả hai phương diện: chủng loại thông tin được cung cấp (tài chí nh vàphi tài chí nh) vàtần suất cung cấp thông tin (định kỳ vàtheo thời gian thực) (AICPA, 2008). Dựa trên sự phát triển của các công ty áp dụng ngôn ngữ XBRL trong việc công bố thông tin tài chí nh nói riêng vàthông tin về hoạt động kinh doanh nói chung, AICPA (2008) dự đoán rằng chỉ trong trung hạn (khoảng 2 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm), nghề nghiệp kiểm toán cần phải cókhả năng chuyển sang cung cấp các dịch vụ đảm bảo mới đó là đảm bảo liên tục ở cấp độ dữ liệu đối với các nguồn dữ liệu được tạo lập trong các công ty nhằm mục đích báo cáo.
Hunton, et al. (2007) thực hiện một nghiên cứu thínghiệm 2 (định kỳ cung cấp thông tin hàng tháng và hàng ngày) x 2 (không đảm bảo và có đảm bảo) trên hai trăm mười lăm học viên cao học quản trị kinh doanh tham gia với tư cách là các kiểm toán viên, kiểm soát viên, nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính. Mục tiêu nghiên cứu lànhằm đánh giá ảnh hưởng của tần suất cung cấp thông tin đến hiệu quả của việc ra quyết định khi tăng tần suất (từ hàng quýchuyển thành hàng tháng, hàng ngày) cung cấp thông tin (có và không có đảm bảo) cho NSD. Kết quả thínghiệm cho thấy, khi các công ty tăng tần suất cung cấp thông tin kể cả được đảm bảo (bởi KTNB) hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 không cho NSD thìNSD đều cảm nhận tí ch hợp của thông tin cao hơn.
Tuy nh thí vậy, NSD không cócảm nhận khác biệt rõrệt về sự thay đổi của tí nh hữu ích khi tăng tần suất cung cấp thông tin được đảm bảo độc lập so với thông tin được đảm bảo (kiểm toán) nội bộ. El-Masry & Reck (2008) đã thực hiện nghiên cứu thínghiệm 2 (thương mại điện tử vàkhông cóthương mại điện tử) x 2 (Rủi ro tài chí nh cao vàrủi ro tài chí nh thấp) x 2 (kiểm toán định kỳ và KTLT) x 2 (năm 2002, trước khi SOX cóhiệu lực và năm 2005, sau khi SOX cóhiệu lực) nhằm đánh giá ảnh hưởng KTLT đến nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro (công nghệ vàtài chí nh) của công ty trong điều kiện tuân thủ SOX. Thínghiệm được thực hiện tại hai thời điểm: năm 2002 với 56 người tham gia và năm 2005 với 82 người, đối tượng tham gia lànhững học viên thuộc các lớp cao học quản trị kinh doanh cókinh nghiệm thực tiễn nói chung và trong lĩnh vực đầu tư nói riêng theo yêu cầu của thínghiệm. Kết quả của thínghiệm cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng đánh giá rủi ro của công ty thấp hơn trong điều kiện công ty áp dụng KTLT sau SOX, và do đó niềm tin của nhà đầu tư cũng gia tăng đáng kể thể hiện trong việc gia tăng quyết định đầu tư mới (mua cổ phiếu) vào công ty.
Tương tự, Farkas & Murthy (2014) thực hiện một thínghiệm 2 (KTLT hoặc GSLT) ×2 (KTV nội bộ hoặc KTV độc lập) theo hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất có 120 người tham gia và giai đoạn thứ hai có 184 người tham gia lànhững nhà đầu tư cánhân (nonprofessional investors) về nhận thức của họ đối với giátrị gia tăng của các hoạt động đảm bảo liên tục được thực hiện bởi KTV (nội bộ và độc lập) vàhoạt động GSLT được thực hiện bởi ban giám đốc công ty. Các kết quả từ cả hai thínghiệm chỉ ra rằng mặc dù các nhà đầu tư cá nhân tin rằng KTLT cóthể làm giảm khả năng sai sót trọng yếu vàphát hiện sớm gian lận, vànhững người tham gia thínghiệm có khuynh hướng tăng đầu tư vào công ty nào màcóáp dụng KTLT, tuy nhiên mức gia tăng là không đáng kể so với trường hợp chỉ kiểm toán báo cáo tài chính định kỳ hàng năm. Kết quả nghiên cứu của Farkas & Murthy (2014) cũng cung cấp một nội dung đáng chú ý là các nhà đầu tư cá nhân cho rằng KTLT nếu được thực hiện, thìchỉ nên bởi KTV nội bộ hơn là bởi KTV độc lập. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Nhu cầu của doanh nghiệp vàKTV về KTLT a) Nhu cầu của doanh nghiệp về KTLT (i) Nhằm đáp ứng các yêu cầu tuân thủ Một dòng nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng KTLT xuất hiện làdo yêu cầu của các doanh nghiệp trong việc giảm nhẹ “gánh nặng” về giám sát việc tuân thủ luật và các quy định.
Daigle & Lampe (2003) đã phân tích các yêu cầu của SOX đối với các công ty niêm yết tại Hoa Kỳ vàchỉ ra rằng, các yêu cầu (được đề cập chủ yếu trong các đoạn 302 và404) sẽ thúc đẩy nhu cầu của các công ty niêm yết đối với hoạt động KTLT. Cũng với quan điểm như vậy, Means & Warren (2005) nhận định rằng do trách nhiệm dân sự vàhình sự khánặng đối những người quản lý, điều hành các công ty niêm yết trong trường hợp họ không tuân thủ SOX. Từ đó đã thúc đẩy các công ty ưu tiên cải thiện các quátrình xử lýtrong nội bộ, chuẩn hóa các thủ tục kiểm soát và hướng đến sử dụng công nghệ để cóthể giám sát kịp thời hơn các hoạt động của công ty.