Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Đặng Anh Tuấn, chuyên ngành Kế toán (mã số: 62.01), được bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2015 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Giang Tân. Đề tài nghiên cứu: "Nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng kiểm toán hoạt động đã hình thành tại một số quốc gia thuộc Khối Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) từ cuối thập niên 1960 và phát triển nhanh vào đầu thập niên 1990 gắn liền với các cuộc cải cách quản trị công. Đến tháng 7 năm 2009, thế giới ghi nhận gần 400 công trình học thuật về lĩnh vực này. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế phát triển thuộc OECD – nơi có bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội khác biệt so với Việt Nam. Hầu hết các công trình quốc tế chỉ dừng lại ở phân tích định tính nhằm giải thích vai trò của các nhân tố, chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng đo lường thực nghiệm mức độ tác động của từng nhân tố đến việc phát triển kiểm toán hoạt động.
Tại Việt Nam, kiểm toán hoạt động được ghi nhận về mặt pháp lý trong Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005. Năm 2007, với sự tài trợ kỹ thuật từ tổ chức GTZ, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã tổ chức thí điểm kiểm toán hoạt động với 15 chủ đề nhưng sau đó phải tạm dừng; cùng năm, Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành Công văn số 22/KTNN-TH ngày 12/01/2007 lần đầu tiên bổ sung mục tiêu đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực (3E) vào các cuộc kiểm toán thường niên. Dù Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2013-2017 tiếp tục định hướng phát triển loại hình này, tiến trình triển khai thực tế của KTNN vẫn bị gián đoạn và diễn ra chậm chạp, đồng thời thiếu vắng các nghiên cứu học thuật giải thích nguyên nhân và thực trạng nói trên.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm mục tiêu chung và ba mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu chung: Khám phá các nhân tố và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam.
- Các mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển kiểm toán hoạt động của một số quốc gia trên thế giới và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này.
- Xác định trình độ phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam.
- Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chính đến việc hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong KTNN.
Luận án thiết lập 5 câu hỏi nghiên cứu đánh số từ Q1 đến Q5:
- Q1: Tại sao một số Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) trên thế giới chuyển đổi chức năng từ kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính (kiểm toán truyền thống) sang kiểm toán hoạt động?
- Q2: Nhân tố nào ảnh hưởng đến sự xuất hiện kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam?
- Q3: Mức độ phát triển kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước trong lĩnh vực công hiện nay ở Việt Nam đang ở giai đoạn nào so với thế giới?
- Q4: Những nhân tố nào cản trở sự phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam?
- Q5: Nhân tố nào tác động đến việc phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam của KTNN.
- Phạm vi nghiên cứu: Kiểm toán hoạt động của KTNN trong lĩnh vực công tại Việt Nam; không khảo sát kiểm toán hoạt động tại doanh nghiệp hay các tổ chức ngoài khu vực công. Dữ liệu thu thập phục vụ phân tích tập trung vào giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 và các văn bản quy định pháp lý cập nhật đến năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước thành các dòng nghiên cứu chuyên biệt:
Dòng nghiên cứu khảo sát trình độ phát triển và chuyển đổi mô hình kiểm toán: Các học giả tiêu biểu gồm Guthrie & Parker (1999), Leeuw (1996), Barzelay & cộng sự (1996), Roth (1996), Shand & Anand (1996), Trodden (1996), Pollitt & cộng sự (1997, 1999), Suzuky (2004), Lonsdale & cộng sự (2011). Dòng nghiên cứu này phân chia lịch sử kiểm toán hoạt động thế giới qua bốn giai đoạn: sơ khai (trước năm 1970), hình thành (1970–1995), phát triển (1996–2007) và hiện đại (từ năm 2007 trở đi). Suzuky (2004) thiết lập thang phân loại 10 giai đoạn chuyển đổi từ kiểm toán tính hợp pháp sang kiểm toán giá trị và phân tích chính sách.
Dòng nghiên cứu về nhân tố thúc đẩy gắn với cải cách quản trị công mới (NPM): Các tác giả Glynn (1985), Holmes (1992), Power (1994, 2003), Leeuw (1996), Barzelay (1997), Radcliffe (1998), Jacobs (1998), Guthrie & Parker (1999), Gendron & cộng sự (2001), Pollitt & cộng sự (1997, 1999, 2003), Pallot (2003) chứng minh rằng việc chuyển dịch từ mô hình quản trị công quan liêu kiểm soát đầu vào sang quản trị công mới hướng tới kết quả đầu ra đã thúc đẩy các SAI mở rộng thẩm quyền sang kiểm toán hoạt động. Power (2003) nhấn mạnh chính hạn chế của kiểm toán truyền thống đã tạo ra động lực chuyển đổi này.
Dòng nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội: Nath & cộng sự (2005, 2011) tổng kết 8 nhân tố thuộc môi trường bên ngoài chi phối sự hình thành kiểm toán hoạt động. Hamburger (1989), Funnell (1998, 2003), English & Guthrie (2000), Mulgan (2001), Pallot (2003), Barton (2006), Adams (1986), Dahanayake & Jacobs (2008) phân tích sự can thiệp của chính phủ, quốc hội, các ủy ban kế toán công và áp lực truyền thông lên tính độc lập cũng như phạm vi đánh giá 3E của các cơ quan kiểm toán quốc gia như ANAO (Úc), NZAO (New Zealand), GAO (Mỹ), NAO (Anh).
Dòng nghiên cứu về rào cản và thách thức tại các quốc gia đang phát triển: Ferdousi (2012) tại Bangladesh chỉ ra sự thiếu hụt kiểm toán viên có năng lực và nhận thức hạn chế của đối tượng được kiểm toán. Hui Fan (2012) khảo sát các nhà quản lý tại 28 tỉnh, thành phố ở Trung Quốc, phát hiện mối quan hệ nghịch lý: khu vực kinh tế kém phát triển và pháp lý yếu kém có nhu cầu kiểm toán hoạt động cao hơn nhưng khả năng cung ứng dịch vụ lại thấp hơn. Albert & cộng sự (2009) phân loại bốn nhóm rào cản ở các nước đang phát triển gồm tổ chức, chuyên môn, chính trị và trao đổi thông tin; đồng thời nhấn mạnh tình trạng dù có thẩm quyền pháp lý nhưng SAI không thể triển khai kiểm toán hoạt động do thiếu hụt ngân sách và nhân lực. Put & Turksema (2011), Shand & Anand (1996), Morin (2004), Knaap (2011) phân tích sự xung đột giữa mục tiêu trách nhiệm giải trình và mục tiêu cải tiến hoạt động.
Các nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả điểm lại các đề tài khoa học của Vương Đình Huệ (2003) về kiểm toán hoạt động dự án đầu tư công, Đinh Trọng Hanh (2003) về đơn vị sự nghiệp có thu, Lê Quang Bính & cộng sự (2013) về kiểm toán hoạt động trong doanh nghiệp nhà nước, cùng giáo trình kiểm toán hoạt động của Vũ Hữu Đức (2010). Các công trình này thuần túy mang tính chất ứng dụng quy trình kỹ thuật, chưa phân tích các nhân tố nền tảng chi phối việc mở rộng chức năng của KTNN.
| Hướng nghiên cứu chính |
Tác giả tiêu biểu trong văn bản |
Khoảng trống học thuật được luận án xác định |
| Trình độ phát triển và lịch sử kiểm toán hoạt động |
Pollitt & cộng sự (1999), Suzuky (2004), Lonsdale & cộng sự (2011) |
Chưa có công trình xác định cụ thể vị trí và trình độ phát triển của KTNN Việt Nam so với thang bậc thế giới. |
| Mối quan hệ giữa cải cách quản trị công và kiểm toán |
Power (1994, 2003), Leeuw (1996), Guthrie & Parker (1999) |
Chưa đánh giá sự tương thích của mô hình quản trị công mới khi áp dụng vào thể chế kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam. |
| Các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội |
Nath & cộng sự (2005, 2011), Funnell (1998), English & Guthrie (2000) |
Chưa làm rõ mối liên hệ tương hỗ, trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các biến số vĩ mô với quá trình mở rộng chức năng của SAI. |
| Rào cản tại các quốc gia đang phát triển |
Albert & cộng sự (2009), Ferdousi (2012), Hui Fan (2012) |
Các nghiên cứu trước chủ yếu dùng phương pháp định tính, chưa có mô hình hồi quy lượng hóa mức độ tác động của các rào cản. |
| Kiểm toán hoạt động tại Việt Nam |
Vương Đình Huệ (2003), Đinh Trọng Hanh (2003), Lê Quang Bính & cộng sự (2013) |
Thiếu vắng nghiên cứu học thuật giải thích nguyên nhân gián đoạn và đo lường các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển của KTNN. |
Luận án định vị khoảng trống cần giải quyết: (1) Khám phá mối liên hệ cấu trúc giữa các nhóm nhân tố nội tại và môi trường bên ngoài; (2) Sử dụng mô hình định lượng để đo lường mức độ tác động của từng nhân tố; (3) Kiểm định sự phù hợp của lý thuyết kiểm toán hoạt động phương Tây trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết nền tảng
Luận án vận dụng bốn lý thuyết kinh tế và quản trị để giải thích hiện tượng nghiên cứu:
- Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management - NPM): Giải thích sự chuyển dịch từ kiểm soát việc tuân thủ quy chế sang đo lường hiệu quả đầu ra và tác động xã hội của các chương trình công.
- Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory) và khái niệm trách nhiệm giải trình: Trong lĩnh vực công, người dân và cơ quan dân cử ủy nhiệm quyền quản lý nguồn lực công cho chính phủ; kiểm toán hoạt động đóng vai trò cơ chế giám sát độc lập nhằm giảm thiểu bất đối xứng thông tin và bảo đảm trách nhiệm giải trình.
- Lý thuyết Lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory): Giải thích hành vi và động cơ của các chủ thể chính trị, nhà quản lý công và lãnh đạo SAI trong việc ban hành chính sách và lựa chọn chủ đề kiểm toán.
- Lý thuyết Cung - Cầu (Supply - Demand Theory): Xem xét kiểm toán hoạt động như một loại dịch vụ công, trong đó "cầu" xuất phát từ Quốc hội, công chúng và đơn vị quản lý, còn "cung" phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, nguồn lực tài chính và khuôn khổ pháp lý của KTNN.
Mô hình khái niệm của luận án được xây dựng dựa trên mô hình kiểm toán hoạt động của Pollitt & cộng sự (1999) kết hợp khung phân tích mô hình đầu vào - đầu ra (Input - Output) để đánh giá quy trình quản lý và vận hành kiểm toán.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods) theo trình tự hai bước:
Bước 1: Nghiên cứu định tính
- Mục đích: Khám phá các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá lịch sử phát triển và xác định các biến số đưa vào mô hình định lượng.
- Kỹ thuật thu thập:
- Phân tích tài liệu và báo cáo kiểm toán của KTNN trong giai đoạn 2005–2013 (Luật KTNN 2005, Công văn 22/KTNN-TH, các báo cáo tổng kết năm).
- Nghiên cứu trường hợp điển hình qua 2 tình huống kiểm toán: Tình huống 1 - Kiểm toán dự án đường Quốc lộ; Tình huống 2 - Kiểm toán Chuyên đề đất.
- Phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý và kiểm toán viên có kinh nghiệm của KTNN.
- Kết quả bước định tính: Xác định được 33 nhân tố ảnh hưởng cụ thể làm cơ sở thiết kế bảng hỏi.
Bước 2: Nghiên cứu định lượng
- Mục đích: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự phát triển kiểm toán hoạt động.
- Quy trình: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát theo thang đo Likert; tiến hành khảo sát thử nghiệm để hiệu chỉnh từ ngữ; thu thập dữ liệu chính thức từ mẫu khảo sát gồm kiểm toán viên và cán bộ quản lý của KTNN.
- Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê để đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội nhằm kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ nhân quả.
| Tiêu chí |
Nghiên cứu định tính |
Nghiên cứu định lượng |
| Mục tiêu chính |
Khám phá nhân tố, làm rõ bối cảnh và tiến trình lịch sử |
Đo lường mức độ tác động và kiểm định giả thuyết mô hình |
| Nguồn dữ liệu |
Báo cáo kiểm toán KTNN (2005-2013), hồ sơ 2 tình huống kiểm toán, biên bản phỏng vấn sâu |
Phiếu khảo sát lấy ý kiến kiểm toán viên và nhà quản lý KTNN |
| Công cụ xử lý |
Phân tích nội dung văn bản, phân tích so sánh đối chiếu |
Thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá (EFA), hồi quy bội |
| Kết quả đầu ra |
Danh mục 33 nhân tố ảnh hưởng và mô tả trình độ phát triển |
Xác định 4 nhóm nhân tố chính và hệ số tác động tương đối |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương này điểm luận chi tiết các nghiên cứu trong và ngoài nước về kiểm toán hoạt động. Tác giả trình bày bảng phân loại 10 giai đoạn chuyển đổi mô hình kiểm toán theo Suzuky (2004), từ việc kiểm toán tính hợp pháp ban đầu sang kiểm toán tính kinh tế, hiệu quả hoạt động, tính hữu hiệu của chính sách, và cuối cùng là kiểm toán giá trị thực tế. Chương 1 làm rõ các nhân tố thúc đẩy và cản trở kiểm toán hoạt động tại các nước OECD cũng như các quốc gia đang phát triển, phân tích 8 nhóm nhân tố môi trường của Nath (2005, 2011) và 7 nhóm rào cản thực thi. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu tại Việt Nam trước năm 2015 chưa giải quyết được bài toán lý luận về nguyên nhân khiến kiểm toán hoạt động chậm phát triển, qua đó xác lập ba khoảng trống nghiên cứu chính của luận án.
Chương 2: Lý thuyết về kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công
Chương 2 trình bày nguồn gốc lịch sử của loại hình kiểm toán này, bắt đầu từ các đợt kiểm toán mở rộng của GAO (Hoa Kỳ) từ thập niên 1940 và sự ra đời của các đạo luật chuyên ngành: Đạo luật Kiểm toán Đức năm 1969, Đạo luật Tái cấu trúc lập pháp Hoa Kỳ năm 1970, Đạo luật Kiểm toán Canada năm 1977, Đạo luật Kiểm toán Úc năm 1979 và Đạo luật Kiểm toán Quốc gia Anh năm 1983. Tác giả phân tích hai định nghĩa phổ biến: định nghĩa học thuật của Pollitt & cộng sự (1999) và định nghĩa chính thức của INTOSAI (năm 1986 tại INCOSAI và Hướng dẫn thực hành năm 2004). Chương này trình bày chi tiết bốn lý thuyết nền tảng (Quản trị công mới, Lý thuyết ủy nhiệm, Lý thuyết lựa chọn hợp lý, Lý thuyết cung - cầu) và thiết lập mô hình khái niệm cùng khung phân tích đầu vào - đầu ra làm cơ sở đánh giá thực nghiệm cho luận án.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Tác giả mô tả chi tiết phương pháp luận hỗn hợp. Trong phần định tính, chương này trình bày quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo kiểm toán giai đoạn 2005–2013 và các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình nghiên cứu 2 tình huống (dự án đường Quốc lộ và Chuyên đề đất), cùng kỹ thuật phỏng vấn sâu chuyên gia. Trong phần định lượng, chương 3 thiết kế các thang đo gồm: nhóm thang đo nhân tố môi trường kinh tế, chính trị và xã hội; nhóm thang đo nhân tố khả năng của KTNN; nhóm thang đo nhân tố đặc điểm hoạt động; và thang đo mức độ phát triển kiểm toán hoạt động. Tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu, quy trình khảo sát thử nghiệm, phương pháp đánh giá giá trị thang đo qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và quy trình thiết lập mô hình hồi quy bội.
Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích định tính và định lượng:
- Kết quả định tính: Phân tích văn bản và báo cáo kiểm toán giai đoạn 2006–2013 cho thấy việc hình thành kiểm toán hoạt động tại Việt Nam chịu tác động từ sáu nhân tố bối cảnh: sự hỗ trợ kỹ thuật của nhà tài trợ quốc tế (GTZ), vai trò chỉ đạo của Tổng Kiểm toán Nhà nước, sự sửa đổi Luật KTNN và các văn bản dưới luật, yêu cầu giám sát từ Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, những biến động của chính sách kinh tế vĩ mô, cùng các yếu kém trong quản lý đầu tư công gây áp lực từ công chúng. Phân tích 2 tình huống kiểm toán dự án đường Quốc lộ và Chuyên đề đất chỉ ra rằng các phát hiện kiểm toán chủ yếu vẫn dừng ở việc chỉ ra sai sót hồ sơ chứng từ, chưa đánh giá sâu tính kinh tế và hiệu quả nguồn lực. Từ kết quả phỏng vấn sâu, tác giả xác định được 33 nhân tố ảnh hưởng cụ thể và đánh giá trình độ kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam giai đoạn này mới ở mức độ sơ khai.
- Kết quả định lượng: Dữ liệu khảo sát sau khi phân tích độ tin cậy và EFA đã rút trích thành 4 nhóm nhân tố chính tác động đến sự phát triển kiểm toán hoạt động:
- Nhân tố chính trị (sự ủng hộ của Quốc hội, Chính phủ, khuôn khổ pháp lý).
- Nhân tố khả năng của KTNN (quy trình, phương pháp kiểm toán, nguồn lực tài chính và tổ chức bộ máy).
- Nhân tố kỹ năng của Kiểm toán viên (trình độ chuyên môn, khả năng phân tích kinh tế, kỹ năng lập báo cáo và đạo đức nghề nghiệp).
- Nhân tố kinh tế (chi phí thực hiện cuộc kiểm toán, nguồn lực kinh tế phân bổ cho KTNN).
Kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy ba nhóm nhân tố đầu (chính trị, khả năng của KTNN, kỹ năng kiểm toán viên) có tác động thúc đẩy mang tính tích cực. Ngược lại, nhân tố kinh tế mang hệ số hồi quy âm, đóng vai trò lực cản đối với tiến trình mở rộng loại hình kiểm toán này. Đặc biệt, phân tích định lượng xác nhận rằng các nhân tố nội tại (năng lực tổ chức của KTNN và kỹ năng của kiểm toán viên) có mức độ tác động trực tiếp và mạnh mẽ hơn so với các nhân tố thể chế bên ngoài.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương cuối cùng tổng kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất mô hình phát triển kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam. Tác giả đưa ra hệ thống kiến nghị chính sách theo 5 nhóm nội dung:
- Tăng cường sự hỗ trợ từ môi trường chính trị và hoàn thiện cơ sở pháp lý (Luật KTNN sửa đổi).
- Tăng cường năng lực triển khai của KTNN (xây dựng cẩm nang kiểm toán, tiêu chuẩn đánh giá 3E).
- Đào tạo nâng cao kỹ năng và phương pháp luận cho đội ngũ kiểm toán viên nhà nước.
- Điều tiết và giải quyết mối quan hệ cung - cầu dịch vụ kiểm toán hoạt động.
- Xây dựng chiến lược phát triển kiểm toán hoạt động dài hạn với lộ trình và bước đi thận trọng.
Chương này cũng chỉ rõ những hạn chế của đề tài và đề xuất các hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm hệ thống hóa 33 nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công tại một quốc gia đang phát triển có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam.
- Luận án đã mô hình hóa và lượng hóa được 4 nhóm nhân tố tác động đến việc triển khai kiểm toán hoạt động độc lập của KTNN gồm: (1) Nhân tố chính trị; (2) Nhân tố khả năng của KTNN; (3) Nhân tố kỹ năng của kiểm toán viên; (4) Nhân tố kinh tế. Trong đó, ba nhóm nhân tố đầu đóng vai trò thúc đẩy, còn nhân tố kinh tế đóng vai trò lực cản.
- Luận án rút ra phát hiện: Khả năng và tốc độ phát triển kiểm toán hoạt động trong giai đoạn khảo sát phụ thuộc chủ yếu vào các nhân tố nội tại bên trong cơ quan kiểm toán (khả năng của KTNN và kỹ năng kiểm toán viên) nhiều hơn là các nhân tố thể chế bên ngoài (chính trị và kinh tế).
- Bổ sung luận cứ thực nghiệm cho lý thuyết cung - cầu kiểm toán: Ở các quốc gia đang phát triển, mức độ minh bạch thấp và hệ thống luật pháp chưa đồng bộ tạo ra nhu cầu (cầu) kiểm toán hoạt động rất lớn, nhưng loại hình này vẫn chậm phát triển do năng lực đáp ứng (cung) của cơ quan kiểm toán tối cao còn nhiều hạn chế.
Đóng góp về phương diện thực tiễn và ứng dụng
- Luận án chỉ rõ thực trạng trình độ kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam giai đoạn 2005–2013 đang ở giai đoạn sơ khai, việc đánh giá 3E phần lớn còn lồng ghép trong các cuộc kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ truyền thống.
- Làm rõ các thách thức thực tế mà kiểm toán viên gặp phải thông qua phân tích 2 tình huống kiểm toán dự án đường Quốc lộ và Chuyên đề đất.
- Cung cấp cơ sở khoa học để ban lãnh đạo KTNN xây dựng Kế hoạch chiến lược phát triển kiểm toán hoạt động phù hợp với năng lực tổ chức, tránh tình trạng mở rộng mục tiêu kiểm toán khi chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về nhân lực và chuẩn mực kỹ thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản:
- Về phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung vào hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong khu vực công, không nghiên cứu kiểm toán hoạt động tại khối doanh nghiệp, tổ chức tài chính hoặc các đơn vị ngoài công lập.
- Về nguồn dữ liệu: Dữ liệu phân tích báo cáo kiểm toán chỉ giới hạn trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013. Mẫu khảo sát định lượng tập trung thu thập ý kiến từ phía chủ thể kiểm toán (lãnh đạo và kiểm toán viên KTNN), chưa mở rộng khảo sát đối tượng thụ hưởng như các đại biểu Quốc hội hay đơn vị được kiểm toán.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khảo sát sự phát triển của kiểm toán hoạt động sau khi Luật Kiểm toán Nhà nước sửa đổi năm 2015 có hiệu lực thi hành.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang đánh giá nhận thức và phản hồi từ phía các đơn vị chịu sự kiểm toán công để có cái nhìn hai chiều về trách nhiệm giải trình.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa KTNN Việt Nam và các cơ quan kiểm toán tối cao khác trong khu vực Đông Nam Á (ASEANSAI).
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Quản trị công: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp (NPM, ủy nhiệm, lựa chọn hợp lý, cung - cầu) tại Chương 2 và quy trình thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa EFA và hồi quy bội tại Chương 3.
- Lãnh đạo và kiểm toán viên thuộc Kiểm toán Nhà nước: Tham khảo danh mục 33 nhân tố ảnh hưởng và kết quả kiểm định 4 nhóm nhân tố tại Chương 4 để nhận diện các nút thắt trong công tác kiểm toán; áp dụng các định hướng chiến lược nêu tại Chương 5 để xây dựng cẩm nang hướng dẫn kiểm toán 3E.
- Các nhà hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội và cán bộ quản lý tài chính công: Tham khảo các phân tích về cơ chế trách nhiệm giải trình và mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp với cơ quan kiểm toán tối cao nhằm hoàn thiện khung pháp lý giám sát ngân sách nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định kiểm toán hoạt động tại KTNN Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đang ở trình độ phát triển nào?
Dựa trên thang phân loại các giai đoạn chuyển đổi mô hình kiểm toán quốc tế, luận án xác định kiểm toán hoạt động tại KTNN Việt Nam giai đoạn 2005–2013 đang ở giai đoạn sơ khai. Các nội dung đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực (3E) chủ yếu được lồng ghép trong các cuộc kiểm toán tài chính hoặc kiểm toán tuân thủ truyền thống, chưa thể tổ chức thực hiện thường xuyên thành các cuộc kiểm toán hoạt động hoàn toàn độc lập.
2. Bốn nhóm nhân tố tác động đến sự phát triển kiểm toán hoạt động được lượng hóa trong mô hình hồi quy là những nhóm nào?
Bốn nhóm nhân tố gồm: (1) Nhóm nhân tố chính trị; (2) Nhóm nhân tố khả năng của KTNN; (3) Nhóm nhân tố kỹ năng của kiểm toán viên; (4) Nhóm nhân tố kinh tế. Kết quả kiểm định cho thấy ba nhóm đầu tác động thúc đẩy sự phát triển, trong khi nhóm nhân tố kinh tế (hạn chế về chi phí, nguồn lực tài chính) đóng vai trò lực cản.
3. Nghịch lý cung - cầu trong kiểm toán hoạt động ở các nước đang phát triển được luận án làm rõ như thế nào?
Luận án chỉ ra rằng tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu (cầu) đối với kiểm toán hoạt động rất cao do áp lực từ công chúng về lãng phí, thất thoát nguồn lực công và yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng (cung) của cơ quan kiểm toán lại rất thấp do thiếu hụt kiểm toán viên có kỹ năng phân tích chuyên sâu, thiếu chuẩn mực hướng dẫn và nguồn lực tài chính hạn chế, dẫn đến việc loại hình này chậm phát triển.
4. Hai tình huống kiểm toán thực tế được tác giả phân tích trong nghiên cứu định tính là gì?
Tác giả đã tiến hành phân tích sâu hai tình huống kiểm toán thực tế gồm: (1) Tình huống 1 - Kiểm toán dự án đường Quốc lộ; (2) Tình huống 2 - Kiểm toán Chuyên đề đất. Kết quả phân tích hai tình huống này cho thấy các phát hiện kiểm toán của KTNN vẫn chủ yếu tập trung vào việc đối chiếu tính hợp lệ của chứng từ, xác nhận giá trị quyết toán hơn là đánh giá toàn diện tính kinh tế và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
5. Nhóm nhân tố nào có ảnh hưởng quyết định nhất đến tốc độ phát triển kiểm toán hoạt động của KTNN?
Kết quả nghiên cứu định lượng và định tính của luận án chứng minh rằng các nhân tố nội tại (bao gồm khả năng tổ chức của KTNN và kỹ năng nghiệp vụ của kiểm toán viên) có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp nhất đến khả năng triển khai kiểm toán hoạt động, vượt trội hơn tác động từ các nhân tố môi trường bên ngoài như chính trị hay điều kiện kinh tế chung.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Anh Tuấn đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc nhận diện và đo lường các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa phân tích tài liệu, nghiên cứu tình huống và mô hình hồi quy lượng hóa, công trình đã xác lập được bốn nhóm nhân tố chi phối chính gồm chính trị, khả năng của KTNN, kỹ năng của kiểm toán viên và điều kiện kinh tế. Luận án khẳng định vai trò then chốt của các năng lực nội tại trong bộ máy kiểm toán đối với tiến trình chuyển dịch từ kiểm toán truyền thống sang kiểm toán hoạt động, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp định hướng chính sách có giá trị thực tiễn đối với Kiểm toán Nhà nước Việt Nam.