Chương 1: Tổng quan nghiên cứu trước Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lý thuyết nền Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Thông qua việc tóm tắt một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, tác giả muốn phác họa bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán quản trị dựa trên hai khuynh hướng chính: các nghiên cứu về công tác kế toán quản trị trong các ngân hàng và các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán quản trị.1 Các nghiên cứu về công tác kế toán quản trị trong các ngân hàng Nghiên cứu “Management accounting and performance measures in Japanese banks” của Md Mostaque Hussain và A. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là điều tra về vai trò của kế toán quản trị trong việc đo lường hiệu quả phi tài chính trong các tổ chức dịch vụ tài chính ở Nhật Bản. Để đạt được mục tiêu trên thì phương pháp thu thập thông tin bao gồm phỏng vấn bán cấu trúc, thu thập thông tin sơ cấp, thứ cấp và nghiên cứu cơ sở lý thuyết. Phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với các đối tượng là các giám đốc tài chính của các ngân hàng và trong ngành tài chính để thảo luận về bản chất và tổng quan về việc thực hiện kế toán quản trị trong tổ chức.
Để hiểu về bản chất của kế toán quản trị, nghiên cứu tập trung vào giải quyết các câu hỏi sau: -Các ngân hàng và tổ chức tài chính có đo lường các chỉ số phi tài chính không và đâu là lý do họ làm vậy? -Những yếu tố quan trọng nào của hiệu quả phi tài chính được đo lường, và những phương pháp và công cụ nào của kế toán quản trị được áp dụng? -Mức độ thỏa mãn việc thực hiện hiện tại và đo lường hiệu quả của kế toán quản trị? Những khó khăn hiện tại là gì? Và giải pháp vào được dùng để vượt qua những khó khăn đó? Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng kế toán quản trị đóng vai trò nhất định trong việc đo lường hiệu quả của các ngân hàng khác nhau ở Nhật Bản, nhưng vai trò của nó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trong việc đo lường hiệu quả phi tài chính thì ít quan trọng hơn so với việc đo lường hiệu quả tài chính. Việc đo lường hiệu quả tài chính (ví dụ lợi nhuận, giá vốn, doanh thu, tỷ suất lợi nhuận…) là quan trọng, nhưng hầu hết các ngân hàng và tổ chức tài chính trong nghiên cứu này cho rằng việc đo lường hiệu quả phi tài chính (như là chất lượng, sự thỏa mãn của khách hàng, trách nhiệm xã hội…) cũng khá quan trọng. Nghiên cứu này khám phá ra rằng trong thực tế hiệu quả phi tài chính không nhận được sự quan tâm như hiệu quả tài chính. Hiệu quả phi tài chính có liên quan trực tiếp đến việc cải thiện hiệu quả tài chính và lợi thế cạnh tranh trong dài hạn (sự thỏa mãn của khách hàng).
Việc quản trị hiệu quả tài chính được xem là cần thiết và cần thực hiện liên tục. Tuy nhiên, trong nhiều tổ chức ngân hàng và tài chính, việc quản trị hiệu quả phi tài chính ít được chú trọng và hầu như không được thực hiện liên tục. Nghiên cứu này cũng khám phá ra rằng không có ngân hàng Nhật Bản nào trong danh sách nghiên cứu sử dụng phương pháp điểm chuẩn (benchmarking) trong việc quản lý hiệu quả. Trong khi đó phương pháp ABC (Activity-Based Costing) được sử dụng trong việc đo lường hiệu quả tài chính và phi tài chính.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không có ngân hàng nào thỏa mãn với việc quản lý hiệu quả, và ba trong số các ngân hàng được khảo sát không thỏa mãn với việc quản lý hiệu quả tài chính và phi tài chính. Thực hiện nghiên cứu về việc áp dụng hệ thống kiểm soát quản lý tại các ngân hàng thương mại ở Nepal, trong nghiên cứu “Application of management control system in Nepalese Commercial Banks” của Saroj Rijal (2006), tác giả khẳng định ngành ngân hàng là ngành chứa đựng rủi ro kinh doanh lớn, và rất khó trong việc quản trị rủi ro và lợi nhuận. Hệ thống quản lý nội bộ tại các ngân hàng ở Nepal khá lạc hậu, vẫn sử dụng hệ thống quản trị truyền thống của chính phủ. Các lý thuyết quản trị truyền thống không còn phù hợp với môi trường hoạt động trong ngành ngân hàng tại Nepal.
Nghiên cứu này tập trung vào bàn luận các vấn đề sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 -Tình hình cạnh tranh của các ngân hàng ở Nepal. -Hệ thống kiểm soát quản lý nào mà ngân hàng thương mại ở Nepal áp dụng? -Hiệu suất hoạt động được đánh giá như thế nào? -Hệ thống khen thưởng nào mà các ngân hàng thương mại áp dụng? -Bằng cách nào các ngân hàng thương mại khuyến khích nhân viên học thêm kỹ năng và kiến thức mới? Dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu gồm dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát các quản lý chi nhánh và các nhân viên tại các chi nhánh khác nhau của ngân hàng thương mại. Kết quả thu hồi được phản hồi của 26 quản lý và 76 nhân viên của 13 ngân hàng thương mại.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ trang web của Sở Giao Dịch Chứng Khoán Nepal (Nepal Stock Exchange Limited), Ngân hàng Nepal Rastra (Nepal Rastra Bank), các ngân hàng thương mại liên quan. Dữ liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau và được phân tích bằng các công cụ thống kê và các lý thuyết đã được phát triển trước đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Nepal là rất cao. Các ngân hàng thương mại chủ yếu cạnh tranh về dịch vụ để nâng cao vị thế cạnh tranh, đa phần các chi nhánh của các ngân hàng thương mại tại Nepal áp dụng chiến lược khác biệt hóa.
Các phản hồi cho thấy rằng các chi nhánh khác nhau của cùng một ngân hàng thương mại áp dụng các chiến lược khác nhau và vài trong số các ngân hàng theo đuổi nhiều chiến lược khác nhau cùng lúc. Tất cả các ngân hàng thương mại ở Nepal đang áp dụng các khái niệm về hệ thống kiểm soát quản lý bằng việc thiết lập mục tiêu cho các chi nhánh, cho các cá nhân đồng thời so sánh với hiệu suất thực tế. Mục tiêu được thiết lập cho các chi nhánh bao gồm số lượng khách hàng, tổng tiền gửi và cho vay. Mục tiêu cũng được thiết lập cho đa số các cá nhân.
Mức độ thực hiện mục tiêu của các chi nhánh và cá nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sẽ được theo dõi thường xuyên. Quản lý của các chi nhánh khác nhau của các ngân hàng thương mại khác nhau mong muốn đánh giá hiệu suất của các chi nhánh dựa trên các công cụ truyền thống như tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn đầu tư (ROI).4% các nhân viên của các ngân hàng thương mại cho rằng hiệu suất công việc của họ có thể so sánh được với các tiêu chuẩn định trước, khoảng 18% người lao động không biết liệu hiệu suất của họ có được đánh giá hay không, 3.8% phản hồi rằng hiệu suất công việc của họ không thể so sánh với tiêu chuẩn. Căn cứ vào phản hồi của người lao động, lợi ích tài chính và phi tài chính sẽ dựa vào hiệu suất thông qua các yếu tố như trình độ, sự đào tạo và kinh nghiệm. Nhưng thưởng hằng năm lại dựa vào phần trăm lương mà họ nhận được.8% người lao động hồi đáp rằng họ được trả lương cao hơn khi hiệu suất công việc cao hơn so với tiêu chuẩn đặt ra trước đó.
Tất cả quản lý của các chi nhánh khác nhau của các ngân hàng thương mại khác nhau đều khuyến khích nhân viên tham gia vào quá trình ra quyết định. Nhưng theo các nhân viên thì điều này không được công bố rõ ràng. Các ngân hàng thương mại ở Nepal khuyến khích nhân viên nâng cao kiến thức và kỹ năng vì lợi ích được tính dựa vào bằng cấp và sự đào tạo, sau đó mới là hiệu suất công việc, họ vẫn nghỉ có lương để tham gia vào các khóa đào tạo và học cao hơn. Môi trường làm việc tại các ngân hàng ở Nepal rất tương trợ lẫn nhau vì phần lớn (75%) các đáp viên cảm thấy rằng có sự hợp tác với đồng nghiệp.
Sự tồn tại của các tổ chức không chính thức và hệ thống giao tiếp thông tin không chính thức chỉ tồn tại ở một số ngân hàng. Tuy nhiên, các nghiên cứu tương lai cần xác định mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát quản trị và tính hiệu quả của các ngân hàng thương mại ở Nepal. Bàn về vai trò của kế toán quản trị trong việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh cho trường hợp ngân hàng vốn chủ (equity bank) có thể kể tới nghiên cứu “The role of management accounting in creating and sustaining competitive advantage, a case study of equity bank, Kenya” của Nicholas Murithi Ndwiga (2011). Ngành ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hàng là một trong những ngành cạnh tranh mạnh nhất ở Kenya.
Ngành công nghiệp ngân hàng tại Kenya bao gồm 43 ngân hàng thương mại, trong số đó có 9 ngân hàng có tên trong danh sách của sàn giao dịch chứng khoán Nairobi. Ngân hàng vốn chủ là một trong 9 ngân hàng đó, nó đăng ký kinh doanh từ năm 1984. Ngân hàng vốn chủ là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng kế toán quản trị thành công, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong ngành ngân hàng. Các kỹ thuật kế toán quản trị đã đóng góp vào các thành tựu đạt được của các ngân hàng.
Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu về vai trò của kế toán quản trị trong việc tạo ra và duy trì một lợi thế cạnh tranh đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể là nghiên cứu nhắm tới giải quyết các vấn đề sau: -Xác định đóng góp của kế toán quản trị trong việc ra quyết định quan trọng của tổ chức nhằm hướng tới việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh. -Khám phá vai trò quan trọng của kế toán quản trị trong sự tăng trưởng, hiệu quả tài chính, khả năng cạnh tranh và trách nhiệm của tổ chức thông qua trường hợp điển hình là ngân hàng vốn chủ.