Chương 1 trình bày tổng quát sự cần thiết và lí do chọn đề tài, nội dung mục tiêu, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả trình bày những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và rút ra những điểm mới trong nghiên cứu riêng biệt về sự hợp tác của doanh nghiệp xuất khẩu trong quy trình lựa chọn nhà cung ứng của công ty dịch vụ thuê ngoài với trường hợp nghiên cứu, công ty Dragon Sourcing. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC 2.1 Tổng quan về Thuê Ngoài - Outsourcing 2.1 Khái niệm Thuê ngoài - Outsourcing hình thành từ thập niên 1962, bắt đầu từ ý tưởng của Ross Perot trong thời gian công tác tại IBM và phụ trách công việc bán phụ tùng cho nhiều khách hàng. Ross Perot bắt đầu hệ thống dữ liệu điện tử vào 1962, cung cấp dịch vụ văn phòng cài đặt chương trình phần mềm.
Từ đó, thuê ngoài đã trở thành một trong những vấn đề nóng hổi, thời sự nhất trong lĩnh vực Công nghệ thông tin. Tuy nhiên, sự quan tâm về tính hiệu quả thuê ngoài mang lại cho hoạt động kinh doanh không được chú trọng bằng việc xác định những nhân tố, chức năng nào cần được thuê ngoài để mang lại nhiều lợi ích kinh tế nhất. Suốt nhiều năm, thuê ngoài đã phát triển đáng kể trong các công ty lớn và bắt đầu thu hút sự quan tâm của phần lớn công ty. Dich vụ điển hình thường trong các lĩnh vực ứng dụng, cơ sở hạ tầng và dịch vụ thông tin.
Khi thị trường bắt đầu định hình, hình thức thuê ngoài theo đó cũng dần thay đổi với khuynh hướng: Sử dụng những nhà cung cấp đa dịch vụ Gia tăng sử dụng nguồn ngoại biên Nhu cầu quản lý mối quan hệ và mối liên kết hiệu quả Hướng đến những thoả thuận mang tính ngắn hạn và phạm vi nhỏ hơn Thuê ngoài đã được nghiên cứu trong nhiều học thuyết. Vài học thuyết thì bổ sung, số khác thì mâu thuẫn. Tính đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều công trình, bài nghiên cứu về thuê ngoài theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Do đó, có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “outsourcing”.
Trong đề tài nghiên cứu, tác giả trích lược một số định nghĩa thuê ngoài nhằm củng cố cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu của đề tài, bao gồm: Outsourcing (thuê ngoài/ thuê nguồn ngoài) là hợp đồng sản xuất linh kiện, cụm lắp ráp, sản phẩm thành phẩm, quy trình và dịch vụ cho công ty khác dựa theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 các thông số kỹ thuật công ty ký kết hợp đồng yêu cầu (Hiemstra & van Tilburg, 1991). Thuê nguồn ngoài quốc tế còn được gọi là tìm nguồn cung ứng toàn cầu. Trent và Monczka (2003) đã nghiên cứu ý nghĩa của tìm nguồn cung ứng toàn cầu và định nghĩa nó như là sự tích hợp trên toàn thế giới về kỹ thuật, hoạt động, logistics, mua sắm, và thậm chí tiếp thị trong phần thượng nguồn của chuỗi cung ứng của công ty. Arnold (2000) đã mô tả thuê ngoài như một từ viết tắt cho "việc sử dụng nguồn tài nguyên bên ngoài".
Những hoạt động truyền thống được thực hiện trong nội bộ trước đây được chuyển sang một nhà cung cấp bên ngoài và các nhân viên của tổ chức ban đầu thường được chuyển sang cho các nhà cung cấp dịch vụ. Quelin và Duhamel (2003) định nghĩa thuê ngoài như hoạt động chuyển giao một giao dịch thực hiện trong nội bộ cho một nhà cung cấp bên ngoài thông qua một hợp đồng dài hạn, bao gồm việc chuyển giao nhân viên cho bên cung cấp. Theo từ điển Oxford định nghĩa thuê ngoài-outsourcing "đạt được do ký kết với một nguồn bên ngoài tổ chức hoặc khu vực; để gia công thực hiện". Với định nghĩa này, bất cứ công việc, chức năng mà tổ chức không tự thực hiện ảnh hưởng đến khả năng cung cấp sản phẩm "phù hợp" được xem là một hạng mục "được thuê ngoài" Như vậy có thể hiểu một cách khái quát thuê ngoài - Outsourcing (từ tiếng Anh: out - ngoài, source –nguồn) là hình thức chuyển một phần chức năng, nhiệm vụ của công ty ra gia công bên ngoài, cho những nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài thực hiện – những chức năng mà trước đây công ty vẫn đảm nhận, hay về cơ bản, thuê ngoài chính là việc chuyển một phần các dịch vụ cho bên thứ ba.
Nói một cách khác, outsourcing về bản chất là một giao dịch, thông qua đó một công ty mua các dịch vụ từ một công ty khác trong khi vẫn giữ quyền sở hữu và chịu trách nhiệm cơ bản đối với các hoạt động đó.2 Chức năng, vai trò của thuê ngoài Giúp nâng cao khả năng cạnh tranh, tập trung chuyên môn hóa thế mạnh của công ty: các nhà quản trị tìm đến mô hình dịch vụ thuê ngoài khi họ phải đối diện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 với yêu cầu đảm bảo năng lực cạnh tranh của công ty. Khi sử dụng nguồn lực bên ngoài, công ty chỉ quan tâm đến yếu tố giá cả cạnh tranh và chất lượng dịch vụ nhận được thỏa mãn mà không cần xem xét đến các yếu tố rủi ro khác do nhà cung cấp mang lại. Góp phần tăng năng suất lao động: công ty có thể tăng năng suất lao động khi được tiếp cận và sử dụng lực lượng lao động có kĩ năng với chi phí thấp từ nguồn ngoài. Với hoạt động thuê ngoài quy trình kinh doanh BPO, công ty có thể sử dụng 80% thời gian xây dựng chiến lược của công ty, khám phá các khu vực lợi nhuận mới, tăng số dự án và tập trung vào chăm sóc khách hàng, v.v thay vì tập trung vào quản lý quy trình chi tiết.
Tiếp cận công nghệ hiện đại: Phần lớn các công ty khi tổ chức kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn và đối mặt với nhiều rủi ro vì sự thay đổi không ngừng của trình độ khoa học công nghệ. Thuê ngoài hoạt động công nghệ thông tin - ITO là một giải pháp hiệu quả giúp tiếp cận với một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, có trình độ công nghệ cao mà không đối mặt với rủi ro tụt hậu công nghệ. Tận dụng nguồn nhân lực dồi dào và lựa chọn đối tác có năng lực tốt nhất: Hầu hết các hoạt động thuê ngoài đều được chuyển ra bên ngoài biên giới, mà chủ yếu là tới các quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi, cũng vì thế nên doanh nghiệp đứng trước cơ hội tiếp cận với một thị trường nhân lực dồi dào, đội ngũ lao động lành nghề và với chi phí hợp lý nhất; đồng thời có thể tiết kiệm chi phí tuyển dụng, đào tạo và một số chi phí khác để duy trì đội ngũ lao động trong công ty. Ngoài ra, doanh nghiệp có khả năng tận dụng các kiến thức chuyên môn mà vốn bản thân nó không có được.
Tiết kiệm và tái cơ cấu chi phí: Chi phí biến đổi đóng vai trò rất quan trọng. Trong quá trình thuê ngoài, tổng chi phí phải trả được tính theo đơn giá với số lượng dịch vụ, do đó, công ty có thể kiểm soát chi phí biến đổi vì số lượng dịch vụ phần lớn được dự tính trước. Ngoài ra, nhiều nhà cung cấp dịch vụ thuê ngoài có thể tạo ra những lợi ích tăng thêm nhờ khả năng quản lý và dự báo nhu cầu lúc cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 điểm và thấp điểm theo quy mô kinh tế của từng khách hàng. Như vậy, công ty có thể tiết kiệm và tái cơ cấu một cách hiệu quả để tập trung vào các danh mục đầu tư hiệu quả hơn.3 Các loại hình thuê ngoài: Có thể phân loại các loại hình thuê ngoài theo 3 tiêu chí: ranh giới địa lý, nội dung hoạt động và hình thức hợp tác Xét về ranh giới địa lý: bao gồm Thuê ngoài nội địa (Inshore outsourcing) và Thuê ngoài ngoại biên (Offshore outsourcing) Về nội dung: Thuê ngoài quy trình kinh doanh (BPO: Business Process Outsourcing) là hình thức một công đoạn, quy trình nào đó được gia công thuê ngoài.
BPO liên quan đến việc thực hiện quy trình chuẩn hóa cho khách hàng. Quy trình lựa chọn nhà cung ứng cũng là một hình thức trong BPO với các tiêu chuẩn đề ra theo quy định. Thuê ngoài hoạt động nghiên cứu, thiết kế (KPO: Knowlegde Process Outsourcing) thường áp dụng cho những công việc cần sự tham gia của người lao động ở cấp độ cao hơn. Người lao động phải có trình độ nghiên cứu, kỹ năng phân tích và kỹ thuật và đưa ra quyết định ở bậc cao hơn so với BPO.
KPO thường tập trung vào các lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, bằng sáng chế / nghiên cứu sở hữu trí tuệ, hoạt hình và mô phỏng. Thuê ngoài Công nghệ thông tin (ITO: Information Technology Outsourcing) ITO thường được giám sát bởi các CIO của một tổ chức. Tuy nhiên, các CIO thường được gọi là để quản lý và hoạt động BPO KPO nơi không có kỹ năng CNTT quan trọng có liên quan. Điều này là do chuyên môn các CIO sẽ phát triển trong đàm phán gia công phần mềm, Call centers – Customer Service (Dịch vụ tổng đài và chăm sóc khách hàng) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ngoài ra, còn có thuê ngoài Phát triển ứng dụng và bảo trì (Application Development and Maintenance); Khôi phục dữ liệu (Disaster Recovery); Tài chính và kế toán (Finance and Accounting); Nhân sự (Human Resources), v.v Về hình thức hợp tác Thuê ngoài giao dịch (Transactional Outsourcing ) Đồng thuê ngoài (Co-outsourcing alliances ) Hợp tác chiến lược (Strategic partnership) 2.2 Tìm nguồn cung ứng 2.1 Khái niệm Tìm nguồn cung ứng có lẽ là một khía cạnh đặc trưng quan trọng nhằm hướng đến quản trị nguồn cung ứng, giúp mang lại một số lợi ích gia tăng cho một tổ chức.
Tìm nguồn cung ứng, một trong những bước quan trọng trong quá trình mua sắm, từ khâu xác định và lựa chọn các nhà cung cấp thỏa mãn tiêu chí về vấn đề chi phí, chất lượng, công nghệ, thời gian giao hàng, tin cậy và dịch vụ tốt nhất đáp ứng nhu cầu của tổ chức. Lựa chọn nhà cung ứng được xem như quyết định mang tính thống trị chủ yếu trong chuỗi cung ứng. Việc lựa chọn nhà cung ứng tốt và đúng nhất là phần thiết yếu, quyết định thành công hoặc thất baị trong hoạt động tìm nguồn cung ứng. Theo Beil (2009) lựa chọn nhà cung ứng giúp công ty nhận dạng, đánh giá và ký kết với nhà cung ứng như liên minh chiến lược.