Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó đƣa ra hƣớng nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu, đặc điểm của sự phù hợp của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng này sẽ trình bày phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng để xác định mô hình sự phù hợp giữa năng lực và khả năng đáp ứng của hệ thống thông tin, hiệu chỉnh thang đo của các nghiên cứu và kiểm định giả thuyết với hai nhóm phù hợp và không phù hợp. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chƣơng này sẽ trình bày các kết quả phân tích: mô tả mẫu, kiểm định thang đo Cronbach’s alpha, sử dụng phƣơng pháp phân tích cụm để tìm hai tập hợp nhóm có thể đƣợc coi là phù hợp và ít phù hợp hơn.
Sau đó, đo lƣờng mức độ tác động của các nhân tố đến đến sự phù hợp của hệ thống thông tin kế toán thông qua phƣơng pháp Binary Logistic. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Đƣa ra kết quả nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao sự phù hợp hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu có liên quan 1. Nghiên cứu công bố ở nước ngoài 1.
Các nghiên cứu về vai trò của hệ thống thông tin kế toán Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một phần quan trọng của nền kinh tế toàn cầu, chiếm phần lớn trong số tất cả các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Mặc dù tầm quan trọng của các công ty này, họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu sự phát triển và ứng dụng CNTT. Trong nghiên cứu của Street C. và cộng sự (2017), tác giảcủng cố và sau đó mở rộng tài liệu HTTT và sự liên kết chiến lƣợc kinh doanh trong các DNVVN.
(2017) đã lập luận rằng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số nhân viên ít có thể làm giảm khả năng liên kết ứng dụng CNTT; cơ sở hạ tầng CNTT kém phát triển sẽ giảm sự liên kết ứng dụng CNTT. Chúng tôi tin rằng những đề xuất này sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu khác nghiên cứu về sự liên kết chiến lƣợc kinh doanh từ góc nhìn mới bằng cách xem xét các đặc điểm của DNVVN sẽ giúp các nhà nghiên cứu trong các DNVVN quản lý tốt hơn nguồn lực HTTT của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu tích hợp về hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp nhỏ tại Singarpore của Thong (1990) là nghiên cứu đầu tiên xem xét việc áp dụng hệ thống thông tin tại doanh nghiệp nhỏ. Dựa trên các lý thuyết về đổi mới công nghệ, nghiên cứu của tác giả này phát triển một mô hình tích hợp hệ thống thông tin (HTTT) áp dụng trong các doanh nghiệp nhỏ.
Mô hình bao gồm các biến nhƣ các đặc tính của nhà hoạch định chính sách, đặc tính HTTT, đặc điểm tổ chức và đặc điểm môi trƣờng là những yếu tố quyết định chính cho việc áp dụng HTTT trong các doanh nghiệp nhỏ. Nhóm tác giả khảo sát đã tiến hành điều tra 166 doanh nghiệp nhỏ, kết quả cung cấp đã góp phần xây dựng mô hình về áp dụng hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ. Trong bốn giả thuyết đƣợc xác định trong mô hình, ba đặc điểm là nhà điều hành, đặc điểm của IS và đặc điểm tổ chức là điều quan trọng hàng đầu trong việc xác định quyết định áp dụng HTTT. Các doanh nghiệp nhỏ có (i) sự hiểu biết và sáng tạo của nhà quản lý, (ii) thái độ tích cực đối với lợi thế tƣơng đối, tính tƣơng thích và sự tinh vi của HTTT, và (iii) các doanh nghiệp lớn hơn và các doanh nghiệp có nhiều nhân viên hiểu biết HTTT có nhiều khả năng áp dụng HTTT tại doanh nghiệp.
Trong khi cƣờng độ thông tin và cạnh tranh không có ảnh hƣởng trực tiếp đến quyết định thông qua HTTT, chúng có thể có những ảnh hƣởng gián tiếp lên quyết định thông qua HTTT thông qua ảnh hƣởng của nó đối với các đặc tính nhận thức của HTTT. Tuy nhiên, trong bốn đặc điểm, chỉ 6 có các đặc điểm tổ chức (cụ thể là quy mô kinh doanh, kiến thức về nhân viên HTTT của nhân viên, và cƣờng độ thông tin) đã đƣợc chỉ ra là các yếu tố quyết định mức độ thông qua HTTT. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét việc áp dụng HTTT trong các doanh nghiệp nhỏ từ quan điểm lý thuyết và thực nghiệm. Nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn trong việc áp dụng hệ thống thông tin trong các doanh nghiệp nhỏ, nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự sáng tạo và kiến thức về hệ thống thông, tuy nhiên nghiên cứu này không thể trực tiếp đánh giá đƣợc sự hiểu biết của Nhà quản lý tại thời điểm áp dụng của HTTT.
Một số nghiên cứu về sự phù hợp hệ thông tin đầu tiên phải kể đến là nghiên cứu của Hussin (2002). Mặc dù nhiều khung lý thuyết liên quan đến chiến lƣợc công nghệ thông tin (CNTT), chiến lƣợc kinh doanh và hiệu suất cho các công ty lớn, đây là nghiên cứu đầu tiên để đề xuất và sử dụng một biện pháp liên kết CNTT trong các doanh nghiệp nhỏ. Hơn nữa, rất ít nghiên cứu đã khảo sát việc sử dụng chiến lƣợc hoặc tác động của CNTT vào các doanh nghiệp nhỏ. Nghiên cứu này cung cấp một đóng góp đáng kể cho sự hiểu biết của chúng ta về chiến lƣợc CNTT trong các doanh nghiệp nhỏ.
Nó không chỉ có đƣợc bằng chứng về tầm quan trọng của sự liên kết CNTT trong các doanh nghiệp nhỏ, nó cũng chỉ ra rằng cách tiếp cận kiểm duyệt có thể là tốt hơn so với cách tiếp cận phù hợp. Hussin và cộng sự (2002) nhận thấy có mối quan hệ giữa cam kết của chủ sở hữu, sự tinh vi công nghệ thông tin, chuyên môn về CNTT bên ngoài và sự phù hợp hệ thống thông tin. Hussin và cộng sự (2002) giải thích các yếu tố quyết định của việc thực hiện hệ thống thông tin nhƣ sự phức tạp về CNTT, cam kết của chủ sở hữu và chiến lƣợc CNTT về sự phù hợp HTTTKT trong các DNVVN. Nghiên cứu này thúc đẩy các kế hoạch chiến lƣợc cho CNTT trong các doanh nghiệp nhỏ và khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu mối liên hệ giữa chiến lƣợc kinh doanh và chiến lƣợc CNTT trong các doanh nghiệp nhỏ.
Mitchell và công sự (2000) lập luận rằng thông tin kế toán có thể giúp các DNVVN quản lý các vấn đề ngắn hạn trong các lĩnh vực nhƣ chi phí, chi tiêu, dòng tiền bằng cách cung cấp thông tin để hỗ trợ theo dõi và kiểm soát. Giai đoạn này có rất ít tài liệu cung cấp về sự phát triển của HTTTKT trong các DNVVN dù cho các doanh nghiệp này có ít thông tin quản lý và kiểm soát, việc đƣa ra quyết định không thƣờng xuyên. Tác giả lấy ví dụ rằng kế toán tài chính vẫn là nguồn gốc thông tin chính để quản lý nội bộ trong các DNVVN. Tác giả cũng gợi ý rằng việc nhận thức về tài chính giữa các nhà quản lý của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc sử dụng máy tính rất quan trọng.
(2007) nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến việc 7 liên kết các hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa của Malaysia. Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cung cấp thêm lý thuyết về sự phù hợp của HTTTKT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít nhận đƣợc sự chú ý trong các tài liệu. Nghiên cứu phân tích sáu giả thuyết tác động lên sự phù hợp của hai nhóm này và cho thấy rằng các yếu tố chính này ảnh hƣởng đến sự phù hợp hệ thống thông tin kế toán, bao gồm: (1) sự tinh vi của thông tin, (2) kiến thức kế toán của nhà quản lý, (3) sự cam kết của nhà quản lý, (4) sự tƣ vấn của các cơ quan nhà nƣớc có liên quan và các công ty kế toán, và (5) sự tồn tại của nhân viên CNTT nội bộ và (6) quy mô công ty. Quy mô công ty đo bằng số lƣợng nhân viên, tuy nhiên, dƣờng nhƣ có mối quan hệ nghịch đảo với sự phù hợp của HTTTKT, trong đó các doanh nghiệp có liên kết nhỏ hơn so với các doanh nghiệp không liên kết.
Trên cơ sở các cuộc thảo luận trên nhận định rằng các DNVVN đạt đƣợc một phạm vi rộng hơn quan điểm của các loại thông tin cùng với vai trò của CNTT nhƣ một cơ chế xử lý thông tin quan trọng là cần thiết và có thể là một phƣơng tiện mạnh mẽ để cung cấp sự tập trung và nâng cao hiệu quả của việc thực hiện HTTT trong các DNVVN. Ismail (2007) đã sử dụng lý thuyết xử lý thông tin của Galbraith (1973) nhƣ là một nền tảng lý thuyết, nghiên cứu này cố gắng lấp đầy khoảng cách của khu vực nghiên cứu quan trọng này bằng cách đề xuất một nghiên cứu về sự liên kết giữa yêu cầu thông tin tổ chức và khả năng xử lý thông tin. Ý tƣởng chính là để có một tác động đáng kể đến hiệu suất, năng lực xử lý thông tin tổ chức phải phù hợp với yêu cầu thông tin của nó. Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu tác động của sự liên kết giữa yêu cầu thông tin tổ chức và năng lực xử lý thông tin đối với sự thành công của việc thực hiện HTTT, cũng nhƣ mối quan hệ giữa sự thành công của HTTT và hiệu suất của tổ chức.
Các nhà quản lý cần thông tin phù hợp và đáng tin cậy kịp thời để có thể đƣa ra các quyết định phù hợp để đạt đƣợc mục tiêu và mục đích của tổ chức (Nabizadeh S. Thông tin tài chính là một trong những loại thông tin quan trọng nhất. Do đó hệ thống thông tin kế toán hiệu quả là rất quan trọng đối với các doanh nghiệp. Dữ liệu đƣợc thu thập thông qua các bảng câu hỏi từ 37 công ty sản xuất là thành viên của Hiệp hội các ngành công nghiệp tẩy rửa, vệ sinh và mỹ phẩm tại Iran.
Nhóm tác giả đã sử dụng phƣơng pháp T-test và sử dụng mô hình hồi quy Logistic nghiên cứu mối tƣơng quan giữa các nhân tố và đối tƣợng phân tích để kiểm tra giả thuyết.