CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Trong chương này, những nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến chất lượng lợi nhuận và các khía cạnh về chất lượng lợi nhuận sẽ được tác giả trình bày. Bên cạnh đó, tác giả cũng lược khảo các nhân tố tác động đến chất lượng lợi nhuận ở các khía cạnh khác nhau mà các nghiên cứu trước đã tiếp cận để từ đó chọn lọc những nhân tố phù hợp để đưa vào nghiên cứu cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến chất lượng lợi nhuận Các lý thuyết liên quan tới việc đánh giá chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp ban đầu chủ yếu được đề xuất bởi các chuyên gia phân tích tài chính hay các nhà môi giới cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần. Họ phát hiện thấy rằng lợi nhuận được đề cập trên báo cáo tài chính không minh chứng được khả năng kiếm được lợi nhuận của doanh nghiệp như họ hình dung.
Họ cho rằng do các hạn chế hay yếu kém nảy sinh trong quá trình đo lường số liệu kế toán nên việc phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy khi phân tích báo cáo tài chính họ rất cẩn trọng với yếu tố lợi nhuận hay lợi nhuận ròng trên cổ phiếu của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc chỉ xem xét các yếu tố lợi nhuận đơn thuần đã vô tình bỏ qua việc đánh giá chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp. Như vậy, chất lượng lợi nhuận có thể được xem như khả năng tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp hay khả năng là doanh nghiệp sẽ đạt được mức tăng lợi nhuận mong đợi trong tương lai.
Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp, vì lẽ đó, không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận mỗi cổ phiếu đem lại mà còn phụ thuộc vào kỳ vọng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai và độ tin cậy đối với kỳ vọng về lợi nhuận. Doanh nghiệp với các khoản mục kế toán có sự báo cáo ổn định về phần gia tăng và giảm sút được cho là có chất lượng lợi nhuận tốt vì sự ổn định này cho phép các nhà phân tích dự đoán lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp với độ tin cậy cao hơn. Nguyên nhân gây ra sự bóp méo về lợi nhuận công bố của doanh nghiệp nảy sinh từ xung đột về lợi ích giữa nhà quản lý và chủ doanh nghiệp và các hạn chế về 8 mặt kế toán trong doanh nghiệp như sai sót trong quá trình dự báo và ước tính giá trị tương lai hay sử dụng các phương pháp kế toán chưa phù hợp tạo ra sự khác biệt giữa lợi nhuận dự báo và lợi nhuận trong báo cáo tài chính. Chất lượng lợi nhuận là sự trình bày trung thực lợi nhuận dự báo và lợi nhuận được công bố, và lợi nhuận công bố sẽ hữu dụng cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan.
Revsine và cộng sự (1999) cho rằng lợi nhuận ổn định là yếu tố cho thấy chất lượng lợi nhuận cao. Richardson và cộng sự (2001) đánh giá chất lượng lợi nhuận dựa trên tính ổn định của doanh thu trong tương lai. Beneish và Vargus (2002) cũng cho rằng tính ổn định trong doanh thu của doanh nghiệp sẽ minh chứng cho chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp. Penman và Zhang (2002) định nghĩa chất lượng lợi nhuận như là khả năng dự báo thu nhập tương lai của doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư hay các bên có liên quan trên thị trường vốn thường dựa vào thông tin trên báo cáo tài chính để đánh giá dòng tiền tương lai của doanh nghiệp từ đó ước tính lợi nhuận mong đợi (Francis và cộng sự, 2004). Như vậy, để có thể dự đoán về dòng tiền tương lai tốt hơn thì lợi nhuận công bố trên báo cáo tài chính nên là lợi nhuận chất lượng tốt. Việc công bố thông tin tài chính chất lượng tốt của doanh nghiệp giúp giảm thông tin bất cân xứng giữa bên quản trị doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp trên thị trường. Giảm thông tin bất cân xứng giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn, giảm rủi ro về mặt thông tin, tăng khả năng dự báo dòng tiền, nâng cao giá trị doanh nghiệp, và tăng tính thanh khoản cổ phiếu (Ardestani, 2007).
Báo cáo tài chính doanh nghiệp là phương tiện giúp chủ sở hữu doanh nghiệp và nhà đầu tư trên thị trường có thể tiếp cận với thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, chất lượng báo cáo tài chính nhận được mối quan tâm vô cùng lớn từ các bên khác nhau trên thị trường đặt biệt là sau giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới bởi vì báo cáo tài chính đem lại thông tin cần thiết để giúp họ ra quyết định. Dechow và cộng sự (2010) định nghĩa chất lượng báo cáo tài chính là sự thể hiện trung thực tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn cụ thể. Báo cáo tài chính nên chứa thông tin dễ hiểu, có thể so sánh được, độ tin cậy cao, và liên quan với tình hình doanh nghiệp.
Độ tin cậy liên quan tới chất lượng thông tin, tức là thông 9 tin không bị thiên lệch và được phản ánh một cách trung thực (Karami và Akhgar, 2014). Độ tin cậy báo cáo tài chính phụ thuộc vào môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và thường khác nhau giữa các quốc gia (Martínez-Ferrero, 2014). Chất lượng báo cáo tài chính được đo lường bằng chất lượng lợi nhuận dựa trên các thuộc tính khác nhau của lợi nhuận và phản ứng của nhà đầu tư đối với lợi nhuận doanh nghiệp. Chất lượng lợi nhuận cao đem lại nhiều thông tin hơn về hoạt động tài chính của doanh nghiệp hỗ trợ các bên có liên quan trong việc ra quyết định.
Chất lượng lợi nhuận là sự trình bày chân thực lợi nhuận báo cáo của doanh nghiệp. Khả năng hoạt động sinh lợi của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại sẽ cho thấy bức tranh hiện thực về khả năng sinh lời và tồn tại của doanh nghiệp trong tương lai. Chasten (1992) cho rằng chất lượng lợi nhuận có liên quan tới dòng tiền doanh nghiệp. Mối tương quan càng cao thì chất lượng lợi nhuận càng tốt.
Feltham và Ohlson (1995) định nghĩa chất lượng lợi nhuận là khả năng nhà đầu tư có thể đoán được sự bất thường trong lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp dựa trên số liệu hiện tại. Lợi nhuận chất lượng tốt là lợi nhuận có sự đảm bảo bằng dòng tiền của doanh nghiệp từ quá khứ tới hiện tại và tương lai (Sloan, 1996, Dechow và Dichev, 2002, Penman và Zhang, 2002, Dechow và Schrand, 2004) định nghĩa lợi nhuận chất lượng tốt là lợi nhuận mà ít thay đổi qua các năm và cho thấy tính hữu dụng của nó trong việc ra quyết định của người sử dụng. Lợi nhuận chất lượng tốt là lợi nhuận cho thấy sự ít biến động trong các khoản dồn tích của doanh nghiệp (DeAngelo và Masulis, 1980). Dựa trên đặc trưng của lợi nhuận, chất lượng lợi nhuận có thể được đánh giá dựa trên tính duy trì (persistence), tính khả năng dự báo (predictability), và tính biến động (variability) (Kormendi và Lipe, 1987).
Lợi nhuận có chất lượng tốt là lợi nhuận có tính liên tục và có khả năng dự báo cao (Bernstein và Wild, 1989, Bricker và cộng sự, 1995). Schipper và Vincent (2003) cho rằng tính khả năng dự báo của lợi nhuận không liên quan tới tính chính xác của lợi nhuận được báo cáo bởi vì công tác quản trị doanh nghiệp sẽ làm các vấn đề liên quan tới số liệu kế toán biến mất giúp tăng tính khả năng dự báo của lợi nhuận. 10 Nhà quản trị có thể đưa các yếu tố ngắn hạn vào chuỗi thời gian của dòng tiền thu nhập của doanh nghiệp. Nếu đo lường chất lượng lợi nhuận bằng tính duy trì thì chất lượng lợi nhuận sẽ giảm nhưng trong trường hợp này sự giảm biến động trong chuỗi thời gian của lợi nhuận làm gia tăng tính khả năng dự báo của lợi nhuận.
Leuz và cộng sự (2003) cùng quan điểm cho rằng lợi nhuận khi bị che giấu các vấn đề rủi ro thông qua quy trình kế toán sẽ không mang tính đại diện cho tình hình doanh nghiệp như đã được báo cáo trong báo cáo tài chính. Watts (2003) thấy rằng lợi nhuận mà được tính toán dựa trên nguyên tắc kế toán khắt khe thường có chất lượng tốt. Schipper và Vincent (2003) xem lợi nhuận như một tín hiệu thông tin tài chính doanh nghiệp trên thị trường và đánh giá tính hữu dụng của thông tin này trong việc ra quyết định của nhà đầu tư trên thị trường. Dechow và Schrand (2004) cho rằng chất lượng lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phân tích tài chính và rằng lợi nhuận chất lượng tốt giúp nhà phân tích đánh giá ba khía cạnh cơ bản của thông tin như hiệu quả doanh nghiệp hiện tại, hiệu quả doanh nghiệp trong tương lai, và giá trị doanh nghiệp.
Altamuro và Beatty (2006) đánh giá chất lượng lợi nhuận dựa trên tính duy trì của lợi nhuận, tức là mối quan hệ giữa lợi nhuận hiện tại và tương lai. Như vậy, lợi nhuận chất lượng tốt có thể dùng để dự đoán hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai hiệu quả hơn. Báo cáo tài chính liên quan tới hệ thống kế toán trong doanh nghiệp và đem lại thông tin cần thiết để đánh giá hiệu quả hoạt động, khả năng tạo ra lợi nhuận, và dòng tiền mong đợi của doanh nghiệp. Thu nhập ròng là một khoản mục trong báo cáo tài chính.
Vì nhiều lý do khác nhau như đảm bảo vị trí trong doanh nghiệp, khoản đền bù (compensation), giá trị gia tăng của doanh nghiệp, tạo ra một bức tranh đẹp về hoạt động của doanh nghiệp bằng cách cộng dồn các khoản mục gia tăng từ đó làm cho lợi nhuận và dòng tiền hoạt động gia tăng. Nếu lợi nhuận được báo cáo dựa trên kết quả hoạt động thực sự của doanh nghiệp có chất lượng kém thì nó không đóng vai trò hiệu quả trong tiến trình ra quyết định kinh tế. Dechow (1994) cho rằng lợi nhuận hiện tại là yếu tố dự báo tốt cho dòng tiền doanh nghiệp trong tương lai và khoản mục đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong báo cáo tài chính là lợi 11 nhuận ròng. Chất lượng lợi nhuận kém có thể dẫn tới tình trạng thông tin bất cân xứng.
Thông tin bất cân xứng và chi phí đại diện giảm cho thấy chất lượng lợi nhuận cao, tức lợi nhuận có tính ổn định qua thời gian. Chất lượng lợi nhuận là chỉ số đánh giá khả năng mà lợi nhuận được báo cáo có thể dùng để dự báo dòng tiền tương lai.