Nhân Tố Tác Động Đến Cấu Trúc Vốn Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn tại ngân hàng thương mại Việt Nam trong luận văn thạc sĩ, cung cấp cái nhìn sâu sắc và phân tích chi tiết.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2011

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do nghiên cứu đề tài

0.2. Xác định vấn đề nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu và mẫu nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN

1.1. Khái niệm cấu trúc vốn

1.2. Quyết định đầu tư

1.3. Quyết định nguồn vốn

1.4. Khái niệm về ngân hàng thương mại

1.5. Các lý thuyết về cấu trúc vốn trong doanh nghiệp

1.5.1. Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (1958)

1.5.2. Lý thuyết chi phí đại diện (The agency theory)

1.5.3. Lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking-order theory)

1.5.4. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The trade – off theory)

1.5.5. Lý thuyết xác định thời điểm thị trường (Market timing theory)

1.6. Các nghiên cứu trên thế giới về cấu trúc vốn ngân hàng

1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của ngân hàng

1.7.1. Nhân tố Lợi nhuận

1.7.2. Nhân tố Quy mô

1.7.3. Nhân tố Tăng trưởng

1.7.4. Nhân tố Tài sản thế chấp

1.7.5. Nhân tố Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại Việt Nam

2.2. Số lượng các ngân hàng thương mại

2.3. Vốn chủ sở hữu

2.4. Tổng tài sản

2.5. Huy động vốn

2.6. Phân tích SWOT về ngân hàng thương mại Việt Nam

2.6.1. Thách thức

2.7. Xây dựng các biến của mô hình và số liệu nghiên cứu

2.7.1. Xây dựng biến số và giả thiết nghiên cứu

2.7.2. Biến Đòn bẩy tài chính (Leverage)

2.7.3. Biến Lợi nhuận (Profitability)

2.7.4. Biến Tài sản thế chấp (Collateral)

2.7.5. Biến Quy mô (Size)

2.7.6. Biến Tăng trưởng (Growth)

2.7.7. Biến Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

2.8. Nguồn số liệu và phương pháp thu thập số liệu

2.8.1. Nguồn số liệu

2.8.2. Phương pháp thu thập số liệu

2.9. Phân tích mô tả thực trạng các nhân tố ảnh hưởng lên cấu trúc vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

2.9.1. Đòn bẩy tài chính (Leverage)

2.9.2. Tăng trưởng (Growth)

2.9.3. Tài sản thế chấp (Collateral)

2.9.4. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

3.1. Xây dựng mô hình và phương pháp nghiên cứu định lượng

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Mô hình nghiên cứu

3.4. Kết quả nghiên cứu

3.4.1. Phân tích tương quan

3.4.2. Phân tích hồi quy các nhân tố nội tại tác động đến cấu trúc vốn ngân hàng thương mại Việt Nam

3.4.3. Kết quả mô hình hồi quy đối với đòn bẩy tài chính

3.4.4. Kết quả mô hình hồi quy đối với đòn bẩy tài chính kết hợp tác động của biến cố định

3.4.5. Phân tích hồi quy các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn có tác động của yếu tố vĩ mô

3.4.6. Kết quả của mô hình hồi quy

3.4.7. Kiểm định sự phù hợp của mô hình

3.4.8. Các kết quả nghiên cứu

3.4.8.1. Biến Quy mô (SIZE)
3.4.8.2. Biến Tăng trưởng (GROW)
3.4.8.3. Biến Lợi Nhuận (PROF)
3.4.8.4. Biến Tài sản thế chấp (COLL)
3.4.8.5. Biến Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

4. CHƯƠNG 4: CÁC KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH VỀ XÂY DỰNG CẤU TRÚC VỐN CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

4.1. Kết luận các nhân tố ảnh hưởng đến CTV NHTM Việt Nam

4.2. Tăng trưởng

4.3. Tài sản thế chấp

4.4. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội

4.5. Một số gợi ý chính sách đối với ngân hàng thương mại Việt Nam

4.6. Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng Thương Mại

Cấu trúc vốn ngân hàng thương mại Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính. Việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định tài chính hợp lý. Các yếu tố như lợi nhuận, quy mô và tăng trưởng có thể tác động mạnh mẽ đến cấu trúc vốn của ngân hàng. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố chính và cách chúng ảnh hưởng đến quyết định tài chính của ngân hàng.

1.1. Khái Niệm Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng Thương Mại

Cấu trúc vốn ngân hàng thương mại được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn và quản lý rủi ro tài chính của ngân hàng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Cấu Trúc Vốn Trong Ngân Hàng

Cấu trúc vốn không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà còn đến khả năng thanh khoản và ổn định của ngân hàng. Việc tối ưu hóa cấu trúc vốn là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

II. Các Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng Thương Mại

Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam. Các yếu tố này bao gồm lợi nhuận, quy mô, và tăng trưởng. Mỗi yếu tố có vai trò riêng trong việc xác định cách thức ngân hàng huy động và sử dụng vốn.

2.1. Nhân Tố Lợi Nhuận Và Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn

Lợi nhuận là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Ngân hàng có lợi nhuận cao thường có khả năng huy động vốn dễ dàng hơn.

2.2. Quy Mô Ngân Hàng Và Tác Động Đến Cấu Trúc Vốn

Quy mô ngân hàng cũng ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Ngân hàng lớn thường có khả năng tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn và dễ dàng hơn so với ngân hàng nhỏ.

2.3. Tăng Trưởng Kinh Tế Và Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn

Tăng trưởng kinh tế có thể tạo ra nhiều cơ hội cho ngân hàng. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về vốn tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của ngân hàng.

III. Thách Thức Trong Quản Lý Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng Thương Mại

Quản lý cấu trúc vốn ngân hàng thương mại đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như rủi ro tài chính, chính sách tiền tệ và cạnh tranh trong ngành ngân hàng đều có thể ảnh hưởng đến quyết định tài chính.

3.1. Rủi Ro Tài Chính Trong Quản Lý Cấu Trúc Vốn

Rủi ro tài chính là một trong những thách thức lớn nhất mà ngân hàng phải đối mặt. Việc quản lý rủi ro này là rất quan trọng để đảm bảo sự ổn định của ngân hàng.

3.2. Chính Sách Tiền Tệ Và Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn

Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước có thể tác động mạnh đến cấu trúc vốn của ngân hàng. Các thay đổi trong lãi suất có thể ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng Thương Mại

Nghiên cứu cấu trúc vốn ngân hàng thương mại cần áp dụng các phương pháp định lượng và định tính. Việc sử dụng mô hình hồi quy có thể giúp xác định mối quan hệ giữa các nhân tố và cấu trúc vốn.

4.1. Mô Hình Hồi Quy Trong Nghiên Cứu Cấu Trúc Vốn

Mô hình hồi quy giúp phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc trong cấu trúc vốn ngân hàng. Điều này giúp đưa ra các kết luận chính xác hơn.

4.2. Phân Tích Định Tính Về Cấu Trúc Vốn

Phân tích định tính giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Các cuộc phỏng vấn và khảo sát có thể cung cấp thông tin quý giá.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng

Nghiên cứu về cấu trúc vốn ngân hàng thương mại có thể giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định tài chính hợp lý. Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sẽ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

5.1. Cải Thiện Hiệu Quả Quản Lý Cấu Trúc Vốn

Các ngân hàng có thể áp dụng các kết quả nghiên cứu để cải thiện hiệu quả quản lý cấu trúc vốn. Điều này sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh.

5.2. Đưa Ra Các Giải Pháp Tài Chính Hợp Lý

Nghiên cứu cũng giúp đưa ra các giải pháp tài chính hợp lý cho ngân hàng. Việc này sẽ giúp ngân hàng tối ưu hóa cấu trúc vốn và giảm thiểu rủi ro.

VI. Kết Luận Về Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn Ngân Hàng Thương Mại

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ngân hàng thương mại Việt Nam là rất cần thiết. Các yếu tố như lợi nhuận, quy mô và tăng trưởng đều có vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp ngân hàng đưa ra quyết định tài chính hợp lý.

6.1. Tóm Tắt Các Nhân Tố Chính

Các nhân tố chính ảnh hưởng đến cấu trúc vốn bao gồm lợi nhuận, quy mô và tăng trưởng. Những yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình ra quyết định.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng để xem xét thêm các yếu tố khác ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ngân hàng. Việc này sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn tại các ngân hàng thương mại việt nam luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN 1. Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn (Capital structure) được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu (VCSH) để tài trợ cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nghiên cứu về CTV là đi vào nghiên cứu về cách thức lựa chọn tỷ lệ phù hợp giữa nợ và VCSH nhằm tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp. Việc chúng ta cân nhắc lựa chọn giữa nợ và VCSH là do có sự khác biệt nhau về bản chất.

Nợ là nguồn vốn được huy động từ vay mượn, có thời hạn, có trách nhiệm hoàn trả, và phải trả một khoản lãi theo thỏa thuận. Khác với nợ, VCSH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sở hữu hoặc được tích lũy từ quá trình kinh doanh. Phần lớn VCSH có đặc điểm là không hoàn trả và có tính ổn định cao. Từ sự khác biệt về đặt điểm của vốn, nên cũng có sự khác biệt về chi phí sử dụng, trách nhiệm hoàn trả và thời gian sử dụng.

Do vậy, đi xác định CTV cho doanh nghiệp chính là xác định Đòn bẩy tài chính phù hợp cho doanh nghiệp. Trong mỗi doanh nghiệp đều có một đòn bẩy tài chính phù hợp tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Với loại hình kinh doanh đặc biệt của mình, NHTM thường sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp phi tài chính. Bởi vì, nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng chính là tiền từ huy động và sử dụng nguồn vốn này như một sản phẩm phục vụ cho hoạt động kinh doanh; còn trong các doanh nghiệp phi tài chính thì nguồn vốn kinh doanh của họ thông thường đến từ nguồn VCSH và một phần đến từ vốn vay.

Vì thế, trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thì nợ luôn chiếm tỷ trọng cao. Tuy nhiên, dù ở loại hình doanh nghiệp nào thì các nhà quản trị tài chính cũng phải đi lựa chọn một đòn bẩy tài chính hợp lý cho doanh nghiệp của mình. Và 7 quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính là kết quả của hai quyết định quan trọng là quyết định đầu tư và quyết định nguồn vốn. Quyết định đầu tư Quyết định đầu tư là quyết định liên quan đến tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản cần có, cũng như mối quan hệ giữa các tài sản trong từng bộ phận doanh nghiệp.

Quyết định đầu tư gắn liền với phần tài sản trong bảng cân đối kế toán. Cụ thể trong ngân hàng, quyết định đầu tư bao gồm: Quyết định đầu tư tài chính, Quyết định đầu tư tài sản cố định. Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong tài chính doanh nghiệp vì với quyết định này sẽ tạo ra giá trị doanh nghiệp (Hawawini & Vialiet, 2002). Một quyết định đầu tư đúng sẽ làm góp phần làm tăng giá trị doanh nghiệp qua đó gia tăng tài sản cho chủ sở hữu.

Quyết định nguồn vốn Quyết định nguồn vốn là lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho đầu tư tài sản của doanh nghiệp: từ nợ hay VCSH, từ nguồn vốn ngắn hạn hay dài hạn. Đồng thời, quyết định nguồn vốn còn xem xét mối quan hệ giữa chi phí, lợi nhuận, tái đầu tư và chia cổ tức. Khi có quyết định lựa chọn nguồn vốn thì vấn đề tiếp theo của nhà quản lý là quyết định xem huy động nguồn vốn đó như thế nào? Trên đây là những quyết định liên quan đến tài trợ trong hoạt động của doanh nghiệp. Để có được một quyết định là một thách thức không nhỏ đối với những nhà quản trị, họ cần các công cụ phân tích trước khi ra quyết định, việc lựa chọn sai lầm sẽ gây hậu quả lớn cho doanh nghiệp, sử dụng công cụ phân tích hỗ trợ hiệu quả là đều cần thiết đối với các nhà quản trị vốn hiện đại.

Khái niệm về ngân hàng thương mại. NHTM là một định chế tài chính trung gian, được thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên và chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán vì mục tiêu lợi nhuận và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế cho Nhà nước. Như vậy, NHTM ra đời là để kinh doanh, hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Đồng thời, NHTM cũng có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp và bình đẳng trong quan hệ kinh tế, tự chủ về tài chính và có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các loại hình doanh nghiệp khác.

Vì vậy, NHTM cũng tồn tại một cấu trúc vốn cho riêng mình như các doanh nghiệp khác (Trần Huy Hoàng, 2007). Nhưng NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, được thể hiện qua các nội dung sau:  Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực đặc biệt vì tiền tệ liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Đồng thời, đây là một loại hình kinh doanh “nhạy cảm” đòi hỏi sự thận trọng trong điều hành hoạt động để tránh thiệt hại cho nền kinh tế xã hội.

Hơn nữa, sản phẩm kinh doanh của ngân hàng là tiền và đây là công cụ do Nhà nước phát hành nhằm sử dụng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, nên được Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ.  Nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là nguồn vốn huy động từ bên ngoài. VCSH của ngân hàng chiếm tỷ trọng rất thấp, chủ yếu được dùng để đầu tư các tài sản cố định.  Hoạt động NHTM chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ và các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

 NHTM là một trung gian tín dụng, thực hiện huy động các nguồn vốn tạm thời gian rỗi trong xã hội và sử dụng nguồn này để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. 9  Như vậy có thể kết luận rằng, NHTM là một loại hình doanh nghiệp, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Các lý thuyết về cấu trúc vốn trong doanh nghiệp 1. Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (1958) Trong lý thuyết về CTV của Modilligani và Miller (MM), hai ông đã đi tìm hiểu xem việc lựa chọn CTV có tác động lên giá trị doanh nghiệp hay không.

Để chứng minh lý thuyết của mình, MM đã đưa ra một số giả định đơn giản hóa rất phổ biến trong lý thuyết tài chính là thị trường vốn hoàn hảo, vì vậy sẽ không có chi phí giao dịch và bỏ qua tác động của thuế. Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng, lúc đó các doanh nghiệp sẽ có rủi ro giống nhau, có tỷ suất sinh lợi mong đợi giống nhau và phải có giá trị doanh nghiệp giống nhau bất kể CTV đó được tài trợ bằng nguồn nào. Như vậy, trong thị trường hoàn hảo, giá trị doanh nghiệp không chịu ảnh hưởng bởi việc lựa chọn CTV. Lý thuyết chi phí đại diện (The agency theory) CTV không chỉ liên quan đến nhà đầu tư bên ngoài mà có thể đến từ nội bộ doanh nghiệp.

Jensen và Meckling (1976) cho rằng việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp có thể xuất phát từ việc xung đột lợi ích giữa nhà quản lý, cổ đông và chủ nợ. Như vậy, ở đây có thể xảy hai mối xung đột chính như sau: xung đột giữa nhà quản lý và cổ đông; xung đột giữa cổ đông, nhà quản lý với chủ nợ. Thứ nhất, xung đột giữa chủ sở hữu và nhà quản lý: Xung đột này xảy ra khi nhà quản lý có khuynh hướng muốn có nhiều thù lao và lợi ích cho chính mình, do đó họ sẽ không thực hiện công việc vì mục tiêu của cổ đông là đi tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và từ đó tối đa hóa giá trị cổ phần nữa. Vì khi đi tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thì khoản lợi nhuận đó sẽ rơi vào túi cổ đông.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi của mình, Các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết 1 định mạo hiểm và rủi ro để đạt được kế hoạch mà cổ đông giao cho, còn nếu xảy ra rủi ro thì đó là tổn thất trên số tiền của cổ đông.  Nguyên nhân của xung đột này xuất phát từ việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Vì khi năng lực của cổ đông giới hạn hoặc mất kiểm soát đối với nhà quản lý thì sẽ xảy ra việc nhà quản lý tiến hành các hoạt động có lợi riêng cho mình. Theo Jensen thì vấn đề chi phí đại diện này còn đặc biệt nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp thừa thải về tài chính, có thể các nhà quản lý sẽ thực hiện các quyết định chưa hiệu quả, đầu tư tràn lan và dàn trải vào những lĩnh vực mà doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh để làm lợi cho mình.

 Để giảm bớt chi phí đại diện trong trường hợp này, các cổ đông phải bỏ ra chi phí cho hoạt động giám sát, chi phí tái cấu trúc nhằm hạn chế các hành vi không mong muốn. Đồng thời, cổ đông có thể phải tăng nợ vay để hạn chế rủi ro về chi phí đại diện. Thứ hai, xung đột giữa cổ đông và nhà quản lý với chủ nợ: Xung đột này xảy ra khi mâu thuẫn về việc đầu tư vào các dự án tối ưu. Vì như ta đã biết, phần lợi tức dành cho chủ nợ được xác định theo lãi suất thỏa thuận, còn các khoản mà cổ đông nhận được là vô hạn và phụ thuộc và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Do sự khác nhau về quyền lợi này nên khi xảy ra khó khăn dẫn đến kiệt quệ tài chính thì các cổ đông sẽ bỏ qua mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp mà thay vào đó sẽ theo đuổi mục tiêu hạn hẹp là lo cho quyền lợi của riêng mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ