Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kiến nghị đề xuất. 123doc 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Công bố thông tin Toàn cầu hóa và sự cảnh báo của các nhà đầu tư về các thông tin tài chính được công bố làm gia tăng nhu cầu và chất lượng thông tin. Công bố thông tin là một trong những công cụ mà các nhà quản lý sử dụng để cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư. Công bố thông tin là một khái niệm trừu tượng, không thể đo lường trực tiếp, không có đặc điểm chắc chắn nào được sử dụng để dễ dàng đo lường mức độ hay chất lượng (Wallace và cộng sự, 1995).
Owasu-Ansah (1998) và Wallace và cộng sự(1995) cho rằng công bố thông tin như một sự truyền đạt thông tin kinh tế, tài chính hay phi tài chính, số lượng hay liên quan đến vị trí tài chính và kết quả hoạt động của công ty. Loại công bố thông tin này, khi trở nên cần thiết bởi các tổ chức ban hành luật và các quy định, được gọi là công bố thông tin bắt buộc và khi công bố thông tin không bị ảnh hưởng bởi các quy định được xem xét như công bố tự nguyện (Owusu-Ansah, 1998).2 Công bố thông tin bắt buộc Công bố thông tin bắt buộc được quy định bởi các cơ quan quản lý ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới (Healy và cộng sự, 2001). Các tổ chức ban hành yêu cầu các công ty công bố các thông tin mà các công ty muốn giấu diếm (Darrough, 1993). Một trong những giải thích cho các quy định công bố thông tin là bảo vệ an toàn và lợi ích cuả các nhà đầu tư ban đầu.
Các định chế nhằm mục đích phân phối lại sự giàu có giữa các nhà đầu tư được thông báo và không được thông báo thông tin bởi yêu cầu công bố thông tin ở mức tối thiểu, khi khoảng trống thông tin giữa họ được kỳ vọng rút ngắn lại (Healy và cộng sự, 1999). Ngoài ra, sự đáng tin cậy của thông tin trong thị trường vốn bị ảnh hưởng tích cực bởi sự tồn tại của các định chế công bố thông tin, đảm bảo sự tuân thủ các yêu cầu bắt buộc của các công ty.3 Công bố thông tin tự nguyện Có những nghiên cứu không định nghĩa công bố thông tin tự nguyện (Xiao và cộng sự, 2004) và những nghiên cứu định nghĩa nó là đối lập với công bố thông tin bắt buộc (Luez và cộng sự, 2008; Yu, 2011). Nghiên cứu này chọn cách định nghĩa công bố thông tin tự nguyện theo hướng thứ hai. Đôi khi công bố thông tin bắt buộc không đầy đủ để đáp ứng kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Do đó, công bố thông tin tự nguyện được sử dụng bởi các nhà quản lý để chuyển đến các nhà đầu tư những thông tin tốt nhất kết quả hoạt động của công ty (Healy và cộng sự, 2001). Vì vậy, công bố thông tin tự nguyện có liên quan đến các thông tin bổ sung, tùy thuộc vào sự quyết định của công ty, tính hợp pháp và áp lưc bên ngoài từ các công ty tư vấn, các nhà phân tích tài chính, thị trường vốn và các yếu tố văn hóa. Công bố thông tin bắt buộc là một trách nhiệm của các cơ quan chức năng (các cơ quan chứng khoán, IASB, FASB…), trong khi công bố thông tin tự nguyện là trách nhiệm của các nhà quản lý công ty. Vì vậy, các nhà đầu tư phải được cảnh báo khi thông tin công bố bắt buộc không phù hợp và các nhà quản lý bắt đầu sử dụng thông tin công bố tự nguyện vì nhà quản lý xem xét lợi ích của chính họ khi tiến hành các quyết định quản trị (Akhtaruddin, 2005).4 Mối quan hệ giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện không nên được xem xét như các khoản mục khác nhau của báo cáo tài chính, khi cả hai đều có tiềm năng quan trọng và tương tác lẫn nhau ở mức nhất định (Yu, 2011).
Khi yêu cầu bắt buộc bị giới hạn hoặc các định chế còn mơ hồ và khó hiểu, các công ty khuyến khích thay thế các thông tin thiếu sót bằng một thông tin tự nguyện. Khi các nhà ban hành yêu cầu các thông tin tự nguyện, điều đó có nghĩa không cần thiết cho các công ty thiết lập các chiến lược công bố tùy chọn (Einhorn, 2004). 123doc 17 Kết quả của sự công bố thông tin kết hợp giữa các khoản mục bắt buộc và tự nguyện có tương tác lẫn nhau. Công bố thông tin bắt buộc là một sự chấp hành của công ty, công bố một số lương tối thiểu thông tin trên báo cáo công ty (Wallace và cộng sự, 1995; Owasu-Ansah, 1998), trong khi công bố thông tin tự nguyện là một sự cung cấp thêm thông tin khi công bố thông tin bắt buộc không cung cấp đủ bức tranh thật sự về giá trị công ty và thành quả quản lý.
Einhoen, (2005); Al-Kazeen và cộng sự, (2004); Yu, (2011) tìm ra tác động của yêu cầu công bố thông tin bắt buộc đến công bố thông tin tự nguyện có thể là ảnh hưởng thay thế hoặc bổ sung. Trong trường hợp thay thế, một sự gia tăng trong yêu cầu công bố thông tin bắt buộc sẽ gây ra sự công bố thông tin tự nguyện thấp hơn, trong trường hợp ngược lại sẽ có sự bổ sung. Một sự kết hợp đáng kể và tích cực giữa công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc được tìm thấy bởi Einhorn (2004) trong khi Al-Razeen và cộng sự, (2004) tìm thấy sự kết hợp không rõ ràng giữa hai loai công bố thông tin. Sự giải thích tiềm năng cho điều đó là thiếu hụt sự liên kết giữa ban giám đốc và ban quản trị.
Luez và cộng sự, (2008) lại cho rằng không có sự kết hợp rõ ràng giữa hai khái niệm này. Các công ty xác định mức tùy chọn công bố thông tin thích hợp cho họ, kể cả các công ty chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu công bố thông tin và giới hạn sự xem xét về công bố thông tin tự nguyện, hay là họ đáp ứng yêu cầu bắt buộc tối thiểu và mở rộng báo cáo bởi sự cung cấp các thông tin tự nguyện (Luez và cộng sự, 2008).1: So sánh công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện. Công bố thông tin bắt buộc Công bố thông tin tự nguyện Định nghĩa Những thông tin được yêu cầu Trừ các công bố thông tin bắt công bố theo luật chứng khoán, buộc, các thông tin được nguyên tắc kế toán và các định công bố bởi các công ty niêm 123doc 18 chế đại diện. yết để tăng hình ảnh công ty, mối quan hệ với những người đầu tư và tránh các rủi ro bị cáo buộc.
Động cơ Sử dụng luật và các định chế để Sự kết nối thông tin có lợi điều chỉnh sự kết nối thông tin cho bản thân giữa các công giữa các công ty niêm yết và các ty niêm yết và các bên có lợi bên có lợi ích liên quan. ích liên quan. Nội dung Giới thiệu công ty, thông tin tài Các chiến lược tương lai của chính cơ bản, thông tin về ban công ty, các kế hoạch R&D, quản trị và nhà quản lý cấp cao, thông tin dự đoán, thông tin các giao dịch liên quan tình trạng mua bán và sáp nhập, các công ty, giải thích các khoản mục phân tích dự án đầu tư, và quan trọng. các phân tích thông tin tài chính, … Phương tiện Báo cáo thường niên, báo cáo Báo cáo thường niên, thông giữa niên dộ, báo cáo thời kỳ.
báo chung, booklets, website,. Thời điểm Thời điểm cố định trong một năm Tại thời điểm xác định. hoặc chu kỳ. Cơ cấu cân bằng Sự điều chỉnh và thi hành pháp Thiết kế cơ cấu và tính hiệu luật.
quả của quản trị công ty. Nguồn gốc của Sự độc quyền của các công ty Sự toàn cầu hóa kinh tế và thị công bố thông trong thông tin của chính nó. trường vốn. tin 123doc 19 Nguồn: Tian & Chen (2009) 2.5 Động cơ công bố thông tin 2.1 Động cơ công bố thông tin bắt buộc Beyer và cộng sự, (2010) đề xuất rằng các quy định công bố thông tin thường hoàn toàn khó khăn và không có một thuyết tổng hợp cho công bố thông tin bắt buộc.
Có bốn minh chứng chính cho công bố thông tin bắt buộc: - Các yếu tố tài chính ngoại tác: chúng xuất hiện khi công ty không chỉ công bố thông tin về vị thế tài chính của nó mà còn về các công ty khác. Do một công ty thường bỏ qua thông tin về các công ty khác, các công ty đối thủ khuyến khích giảm cung cấp thông tin. Trong trường hợp này, các quy định công bố thông tin sẽ giúp cải thiện phúc lợi xã hội. - Các yếu tố ngoại tác thực sự: chúng tồn tại khi thông tin công bố của một công ty ảnh hưởng đến quyết định của công ty khác.
Nếu thông tin được công bố cho phép các công ty khác ra các quyết định thăm dò, các định chế bắt buộc các công bố bổ sung có thể cải thiện phúc lợi xã hội. - Chi phí đại diện: các cơ quan chức năng ban hành các quy định có thể bắt buộc công bố thông tin khi các nhà đầu tư yếu thế và không thể bắt buộc các nhà quản lý công bố đầy đủ thông tin về vị thế tài chính. Điều này cũng làm gia tăng phúc lợi xã hội. - Quy mô kinh tế: các chuẩn mực kế toán thông thường có lợi ích khi chúng cải thiện tính so sánh được của thông tin công bố của công ty và chúng làm giảm nỗ lực của các nhà đầu tư để thu thập thông tin.
Vì vậy, nó chắc chắn đạt được những ước tính chính xác về kết quả hoạt động của các công ty khác hơn và cung cấp quy mô kinh tế trong các khoản mục công bố thông tin giải thích cho các nhà đầu tư.2 Động cơ công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin tự nguyện là một phương tiện để các nhà quản lý thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư và các bên có liên quan đến công ty của họ. Healy và cộng sự, (2001) xác định năm giả thuyết về ảnh hưởng của ra quyết định công bố thông tin của các nhà quản lý cho thị trường vốn.