Chương 1 ASEAN VÀ VIỆT NAM 1.1 Khái quát quan hệ Việt Nam – ASEAN Trong lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Là những nước cùng nằm trong một khu vực, có sự tương đồng về văn hoá, lịch sử và những điều kiện tự nhiên, kinh tế, nếu quan hệ tốt đẹp, láng giềng hữu nghị sẽ tạo thuận lợi cho quá trình phát triển của nhau và ngược lại. Trải qua bao nhiêu thăng trầm trong quan hệ khu vực đó, cho tới nay, Việt Nam là một thành viên tích cực, có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động quốc tế. Kể từ khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời năm 1967, trải qua hơn bốn thập kỷ quan hệ Việt Nam với các nước trong ASEAN cũng qua thăng trầm lịch sử, có thể chia ra đại thể làm 2 thời kỳ chính: thời kỳ chiến tranh lạnh và thời kỳ sau chiến tranh lạnh.1 Quan hệ Việt Nam – ASEAN thời kỳ 1967 – 1978 Mới được thành lập ở giai đoạn này ASEAN chưa có hoạt động gì đáng kể về mặt chính trị cũng như kinh tế.
Lúc này thế giới đang diễn ra chiến tranh lạnh và tình trạng đối đầu giữa hai hệ thống xã hội. Các nước ASEAN cũng bị tình hình trên tác động mạnh, và một số nước ở những mức độ khác nhau có dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Vào cuối những năm 1960, đầu năm 1970, ở khu vực đã diễn ra một số chuyển biến có ý nghĩa chiến lược, trong đó quan trọng nhất là sự thất bại đã trở nên rõ ràng của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, được đánh dấu bằng cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) của Việt Nam. Sau sự kiện này, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam ở Pari (10-5-1968) và chuyển sang thực hiện Học thuyết Nixon (25-7-1969), chủ trương giảm bớt các cam kết của Mỹ ở Châu Á, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, chuẩn bị rút dần 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quân khỏi Việt Nam và Đông Nam Á.
Ngày 28-9-1969, Mỹ và Thái Lan bắt đầu thương lượng về việc Mỹ rút 48.000 quân khỏi Thái Lan. Trong khi ảnh hưởng của Anh và Mỹ bị suy giảm ở khu vực, thì ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc lại tăng lên. Trung Quốc thông qua lực lượng được hỗ trợ ở các nước Đông Nam Á để gây áp lực với các chính quyền ASEAN. Còn Liên Xô bắt đầu triển khai chiến lược châu Á của mình để đối phó với khả năng liên kết Trung – Mỹ cũng như mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á.
Việc rút các lực lượng của Anh, Mỹ khỏi khu vực Đông Nam Á, việc ảnh hưởng Xô – Trung tăng lên và việc thắng thế của cách mạng Đông Dương là những nhân tố tác động sâu sắc tới cục diện Đông Nam Á vào cuối những năm 60 đầu 70, buộc các nước ASEAN phải tính toán lại chiến lược của mình. Một trong những biểu hiện đầu tiên của quá trình điều chỉnh chiến lược này là việc Thủ tướng Malaysia đưa ra khái niệm trung lập hoá Đông Nam Á vào tháng 2/1969. Các nước ASEAN, nhất là những nước thân Mỹ và có quân ở Việt Nam đã không tán thành ngay khái niệm này. Nhưng dưới sức ép của tình hình mới, tháng 11/1971 các nước ASEAN đã chấp nhận có sửa đổi khái niệm trên và ngày 27/11/1971 họ đã tuyên bố về thành lập khu vực Hoà bình, Tự do và Trung lập ở Đông Nam Á (gọi tắt là ZOPFAN).
Tuyên bố này, về hình thức tạo ra một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của các nước ASEAN: từ chỗ theo đuôi Mỹ, nay muốn tách ra, đứng ngoài cuộc tranh giành giữa các nước lớn. Về thực chất, đây là một phương cách để duy trì sự tồn tại của các nước ASEAN trong tình hình mới, và cũng là để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Đông Dương sang các nước đó bằng khẩu hiệu “cùng tồn tại hoà bình”. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quan hệ với Việt Nam, tuyên bố này cũng đánh dấu sự chấm dứt việc các nước ASEAN ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thực ra, do tình thế thất bại của Mỹ - ngụy quyền Sài Gòn, các nước ASEAN đã phải giảm thiểu sự dính líu của mình vào cuộc Chiến tranh Việt Nam.
Tháng 10 - 1969, Philippines công bố kế hoạch rút một phần quân và tháng 12-1969 đã rút hơn 1000 công dân vụ khỏi Việt Nam. Tháng 9-1970 Thái Lan cũng bắt đầu rút 12.000 quân khỏi Việt Nam. Đến cuối năm 1970, Malaysia đã đình chỉ việc đào tạo cảnh sát và cố vấn cho ngụy quyền Sài Gòn và đầu năm 1972 đã từ chối yêu cầu của ngụy quyền Sài Gòn đề nghị Malaysia lên án cuộc tấn công của quân và dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam. Singapore tỏ thái độ hữu nghị với Việt Nam Dân chủ cộng hoà bằng cách để cho Việt Nam đặt cơ quan Tổng công ty xuất nhập khẩu vào tháng 7-1971.
Bên cạnh việc chấm dứt dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, năm 1972, một số nước ASEAN như Philippines, Malaysia, Singapore đã bắt đầu thăm dò khả năng phát triển quan hệ với Việt Nam, cả về kinh tế, thương mại và ngoại giao. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai bên vẫn chưa có tiến triển gì đáng kể hơn. Giai đoạn 1973-1978, tình hình khu vực có nhiều chuyển biến lớn, dẫn đến sự đảo lộn mạnh mẽ trong cán cân lực lượng ở đây. Tháng 1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết.
Tháng 8-1973, Mỹ buộc phải chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Đông Dương. Xu thế hoà bình, trung lập ở khu vực phát triển mạnh, nổi bật là phong trào đấu tranh của sinh viên, thanh niên trí thức Thái Lan chống đế quốc đã đưa đến sự sụp đổ của chế độ độc tài quân sự thân Mỹ Thanon vào tháng 10-1973. Chính quyền mới ở Thái Lan đã yêu cầu Mỹ rút quân khỏi Thái Lan … Những sự kiện trên đây đã buộc các nước ASEAN phải điều chỉnh mạnh mẽ chính sách đối ngoại của mình. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên bình diện quốc tế, các nước ASEAN đã đẩy mạnh quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là với Trung Quốc và Liên Xô, thực hiện chính sách cân bằng giữa các nước lớn.
Ngày 22-6-1973, tại Liên hợp quốc, Malaysia là nước ASEAN đầu tiên đã gặp Trung Quốc ở cấp Đại sứ để bàn về vấn đề lập quan hệ ngoại giao. Đến tháng 5-1974, Malaysia và Trung Quốc chính thức lập quan hệ ngoại giao. Ngày 20-12-1974, Thái Lan quyết định bình thường hoá quan hệ thương mại với Trung Quốc và ngày 22-12-1974, Thứ trưởng ngoại giao Thái Lan đi Trung Quốc bàn về việc lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Trên bình diện khu vực, các nước ASEAN cũng có nhiều cử chỉ thân thiện hơn, tạo cơ sở cho việc đặt quan hệ với Việt Nam.
Tháng 3-1973, Philippines và Thái Lan rút hết quân đội khỏi Nam Việt Nam, tháng 7-1974, Thái Lan thoả thuận xong với Mỹ việc hạn chế Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự ở Thái Lan chống lại các nước Đông Dương. Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN họp ngày 15-2-1973, các nước ASEAN kêu gọi chương trình viện trợ kinh tế cho các nước Đông Dương và thành lập Uỷ ban phối hợp các nước ASEAN về việc tái thiết và khôi phục lại các nước Đông Dương. Về phía Việt Nam, từ sau khi ký Hiệp định Pari năm 1973, Việt Nam bắt đầu tích cực triển khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với các nước thuộc tổ chức ASEAN. Tháng 3-1973, Việt Nam lập quan hệ ngoại giao với Malaysia và tháng 8-1973 lập quan hệ ngoại giao với Singapore.
Trong năm 1974 và 1975 Việt Nam đã đón một số đoàn từ các nước ASEAN như đoàn Tổ chức Á – Phi của Malaysia, đoàn 16 hạ nghị sĩ Thái Lan. Cũng trong thời gian này, Việt Nam đã xúc tiến đàm phán lập quan hệ ngoại giao với Philippines và Singapore. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính sách ngoại giao của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á lần đầu tiên được thể hiện rõ ràng trong chính sách 4 điểm tháng 7-1976, trong đó nêu lên những nguyên tắc cơ bản cho việc phát triển hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á như: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cùng tồn tại trong hòa bình không để lãnh thổ của mình cho nước ngoài sử dụng, giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng phát triển hợp tác khu vực. Để tranh thủ sự ủng hộ cho chính sách trên, tháng 7-1976, Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Phan Hiền đã lần lượt đi thăm Philippines, Singapore, Indonesia, Malaysia và các nước ASEAN đều tuyên bố ủng hộ chính sách 4 điểm của Việt Nam.
Trong thời gian này quan hệ ngoại giao Viêt Nam – Malaysia đã được thiết lập và phía Malaysia đã hứa giúp Viêt Nam khôi phục kinh tế theo khả năng của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực cao su. Tháng 8-1976, Việt Nam và Thái Lan cũng thỏa thuận quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Như vậy, đến tháng 8-1976, Viêt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với tất cả các nước thành viên ASEAN. Trong các năm 1977 và 1978, quan hệ song phương Viêt Nam với từng nước ASEAN đã phát triển mạnh mẽ với các chuyến thăm hữu nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thăm 5 nước ASEAN (tháng 9 và tháng 10-1979) và của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh thăm 5 nước ASEAN (tháng 12-1977 và tháng 1-1978).
Trong các chuyến đi, giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã ký nhiều hiệp định về hợp tác kinh tế thương mại, hợp tác khoa học kỹ thuật, hàng không, hàng hải, đặc biệt trong chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Việt Nam và các nước này đều đề ra thông cáo chung nêu lên các nguyên tắc chỉ đạo (quan hệ chung sống hòa bình). Ngoài ra, Việt Nam còn cử nhiều đoàn đại biểu của các ngành triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể khác. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam đã lần lượt lập Đại sứ quán tại Manila (11-1976), Kuala Lumpur (7-1977), Bangkok (2-1978) và các nước Philippines, Malaysia, Thái Lan cũng đã lập đại sứ quán tại Việt Nam vào các thời điểm tương ứng. Các cuộc đàm phán với Indonesia về thềm lục địa chồng lấn ở cấp chuyên viên cũng bắt đầu được xúc tiến.
Có thể nói trong thời kỳ này, quan hệ Việt Nam các nước ASEAN phát triển tốt đẹp hơn so với trước đó.