CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN Cơ sở lý luận: Nhận thức về tình một đêm trong cộng đồng sinh viên tại Đại học Công nghệ TP.HCM (Hutech) là một chủ đề phức tạp, bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội, tâm lý và văn hóa. Ở độ tuổi trưởng thành, sinh viên đang trong giai đoạn khám phá bản thân, khao khát trải nghiệm mới lạ và thử thách giới hạn cá nhân. Họ không chỉ phải đối mặt với áp lực học tập mà còn phải xử lý những tác động từ môi trường sống năng động của một thành phố lớn như TP. Nghiên cứu của (20)Nguyễn Thị Hồng Hoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) chỉ ra rằng, những áp lực học tập và nhu cầu giải tỏa căng thẳng thường thúc đẩy sinh viên tìm kiếm những hoạt động có tính chất "thoát ly", bao gồm cả tình một đêm, như một cách để tìm kiếm sự thư giãn nhanh chóng.
Điều này càng dễ dàng trong một xã hội nơi mà truyền thông đại chúng thường miêu tả các mối quan hệ tình cảm thoáng qua, tự do và không ràng buộc một cách lãng mạn và hấp dẫn. Tuy nhiên, bất chấp những lợi ích tạm thời như sự thỏa mãn nhanh chóng hay cảm giác tự do, tình một đêm cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về sức khỏe, tâm lý và các mối quan hệ xã hội. (22)Nghiên cứu của Đỗ Thanh Hải (2020) cho thấy rằng những người tham gia vào các mối quan hệ tình một đêm có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi sự căng thẳng tâm lý, cảm giác tội lỗi, và sự suy giảm chất lượng mối quan hệ xã hội. Thêm vào đó, tình một đêm cũng đi kèm với những rủi ro về sức khỏe tình dục, bao gồm nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường tình dục nếu không có biện pháp bảo vệ an toàn.
(21)Một Nghiên cứu khác của Trần Thị Minh Hằng (2019) chỉ ra rằng việc đưa ra quyết định tham gia vào tình một đêm cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, không chỉ dựa trên cảm xúc tức thời mà còn dựa trên sự hiểu biết đầy đủ về các rủi ro liên quan. Sinh viên cần được trang bị kiến thức về tình dục an toàn và có khả năng tự nhận thức về bản thân để đưa ra những quyết định hợp lý, đảm bảo an toàn và tránh những hậu quả tiêu cực về lâu dài cho thấy rằng những cá nhân tham gia vào tình một đêm thường không sử dụng biện pháp bảo vệ đầy đủ, do đó tăng nguy cơ mắc bệnh hoặc mang thai ngoài ý muốn.1 Lịch sử nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài (1)Tesfaye Regassa và cộng sự (2014) nghiên cứu “Tình dục trước hôn nhân trong mười hai tháng qua và những yếu tố dự báo trong số sinh viên của Đại học Wollega, Ethiopia” kết quả cho thấy Số thanh thiếu niên tại Đại học Wollega quan hệ tình dục trước hôn nhân trong mười hai tháng qua là 28.5% trong số họ không sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần nhất trong khi 31.3% quan hệ tình dục với nhiều người. một phần ba sinh viên đại học chính quy của trường đại học đã quan hệ tình dục trước hôn nhân trong mười hai tháng qua. Thông qua đó cho thấy nam giới sử dụng phương tiện truyền thông xã hội thường xuyên và sử dụng rượu có liên quan đến tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng lên.
(2)G Shiny Chrism và cộng sự (2020) đã thực hiện một nghiên cứu tại một trường tư thục ở Ấn Độ nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ và nhận thức về giáo dục giới tính, sức khỏe tình dục và các bệnh lây truyền qua đường tình dục và sinh sản của thanh thiếu niên đi học ở khu vực đô thị Chennai và Tamil Nadu. Kết quả cho thấy nữ giới có kiến thức giáo dục giới tính tốt hơn nam giới. (3)Kegnie Shitu và cộng sự (2016) nghiên cứu về “Tỷ lệ và các yếu tố quyết định hành vi tình dục trước hôn nhân ở thanh thiếu niên tại Ethiopia” kết quả cho thấy tỷ lệ tình dục trước hôn nhân là 10. Cứ 10 thanh niên thì có ít nhất một người quan hệ tình dục trước khi kết hôn.
Thuộc nhóm tuổi 20-24, quan hệ tình dục với nam giới, có việc làm, đến từ vùng chăn thả gia súc, có điện thoại di động, sử dụng Internet, uống rượu, nhai lá khat và xét nghiệm HIV là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quan hệ tình dục trước hôn nhân. (4)Wondmnew Lakew Arega và cộng sự ( 2017) nghiên cứu về “Thực hành tình dục trước hôn nhân và các yếu tố liên quan ở thanh thiếu niên trung học tại thị trấn Debre Tabor, khu vực Nam Gondar, Tây Bắc Ethiopia, 2017” kết quả cho thấy Tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân ở thanh thiếu niên trung học thị trấn Debre Tabor là 22. Trong số những thanh thiếu niên trung học đó, phần lớn (60.2%) quan hệ tình dục lần đầu ở độ tuổi 15–19. Lý do chính dẫn đến quan hệ tình dục là do yêu đương chiếm 5 48.1%, tiếp theo là ham muốn tình dục chiếm 22.
Một số lượng đáng kể thanh thiếu niên trung học đã tham gia vào hoạt động tình dục trước hôn nhân. Không tham gia giáo dục tôn giáo, có bạn trai/bạn gái, xem phim khiêu dâm, uống rượu và đến từ các gia đình sống ở nông thôn là những yếu tố nguy cơ được xác định.2 Các công trình nghiên cứu trong nước (5)Phạm Thị Hương Trà Linh và Lã Ngọc Quang (2014) thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên 845 sinh viên trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi quan hệ tình dục của sinh viên. Kết quả cho thấy kiến thức của sinh viên về quan hệ tình dục an toàn chưa cao, thái độ về quan hệ tình dục trước hôn nhân của một bộ phận không nhỏ sinh viên khá cởi mở. Tỷ lệ sinh viên quan hệ tình dục trước hôn nhân là 29.8% nam sinh viên quan hệ tình dục với phụ nữ mại dâm, 2.6% quan hệ tình dục đồng tính.
Tỷ lệ sinh viên luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với người yêu chỉ niếm 25%, với phụ nữ mại dâm là 56. Điều này dẫn đến 9.7% sinh viên mắc bệnh liên quan đến tình dục, 13% mang thai hoặc làm bạn tình mang thai ngoài ý muốn. (6)Lê Thị Liêng và cộng sự (2021) thực hiện nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân ở sinh viên tuổi 18- 24 tại cơ sở 1 Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp. kết quả cho thấy Các nghiên cứu về quan hệ tình dục trước hôn nhân đã phản ánh tình trạng và xu hướng của sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng gia tăng, với 33% tổng số sinh viên tham gia nghiên cứu. Trong nghiên cứu còn cho thấy, sinh viên sống xa nhà, sống tự lập và có nhiều bạn bè thường có xu hướng quan hệ tình dục cao hơn. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai trong quan hệ tình dục cũng là một vấn đề đáng quan tâm, với chỉ 19.2% sinh viên sử dụng biện pháp tránh thai thường xuyên, trong khi có đến 30.8% SV không sử dụng biện pháp tránh thai. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả như mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs).
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân gồm văn hóa, sự quan tâm của gia đình, việc xem ý văn hóa phẩm kích thích tình dục, sử dụng rượu/bia và ảnh hưởng từ bạn bè. 6 (7)Trần Thị Thanh Tuyền và cộng sự (2020) nghiên cứu “Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên một trường cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả ghi nhận 39.9% sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân với tuổi quan hệ lần đầu trung bình là 20.9, đã quan hệ với trên 1 người là 43.3% SV mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.3% không sử dụng bao cao su khi quan hệ mà sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp.2% mang thai ngoài ý muốn cho thấy sinh viên một trường cao đẳng có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đồng thời cũng chỉ ra các yếu tố liên quan bao gồm giới tính nam, hệ đào tạo liên thông, sống ở nhà trọ, tìm hiểu nhiều nguồn thông tin và thường uống rượu bia. (8)Võ Thị Kiều Mi và cộng sự (2020) về nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ khối Khoa học sức khỏe, Trường Đại học Duy Tân” cho thấy mức độ hiểu biết tốt của sinh viên chiếm 70.
tỷ lệ sinh viên có kiến thức, thái độ và hành vi tốt về sức khỏe sinh sản lần lượt là 37. Thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ thuộc khối Khoa học sức khỏe Trường Đại học Duy Tân còn hạn chế trong khi nhu cầu tìm hiểu về vấn đề sức khỏe sinh sản khá cao. (9)Chu Thị Phương Quỳnh và cộng sự ( 2023) về nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tình dục an toàn của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về ý định, hành vi tình dục an toàn trong các trường đại học, theo năm học và tình trạng hôn nhân. Tuy nhiên, có sự khác biệt về giới tính và ý định hành vi tình dục an toàn với mức trung bình của nữ giới cao hơn nam giới.
Về kiến thức tình dục an toàn, đa số sinh viên trong số họ (71.66%) đều biết các biểu hiện của các bệnh lây truyền thường gặp sau khi quan hệ tình dục và trong số họ thì có đến 48.99% sinh viên biết về các bệnh nhiễm truyền qua đường tình dục.2 Khái niệm công cụ liên quan 1.1 Khái niệm về "tình một đêm" (one night stand) (10)Tài Nữ Linh Hảo (2023): Tình một đêm là thuật ngữ để chỉ về một cuộc tình (quan hệ tình dục) diễn ra trong một lần duy nhất, sau này cả hai không có bất kỳ ràng buộc nào 7 về mặt tình cảm hoặc gặp gỡ. Lúc này cả hai đến với nhau chỉ để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bạn thân mà không dựa trên nền tảng của tình yêu.