CHƯƠNG 1 I. Các khái niệm chung 1. Dân tộc là gì? Trong Tiếng Việt, gần như không có từ nào mang lại sắc thái dân tộc mạnh mẽ hơn 2 từ dân tộc. Hai chữ vỏn vẹn ấy dường như gói gọn hết những bản sắc, đặc điểm, tính chất riêng mà mỗi chủ thể tồn tại trên Trái Đất này đang nắm giữ.
Đây không phải một định nghĩa mới song, khi ta tìm hiểu sâu và kỹ càng hơn về hai từ “ dân tộc”, ta mới thấm thía được ý nghĩa của nó. Dân tộc được chia ra làm 2 khái niệm mang những định nghĩa và cách xác định khác nhau. Dân tộc (tộc người, ethnie) Dân tộc (tộc người, ethnie) là một tập đoàn người xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong những trường có phái nhân học cổ Châu Âu, Mỹ và trong những nghiên cứu củ các nhà dân tộc học ở Xô Viết cũ đã xuất hiện những khái niệm này, tuy vậy chúng lại có sự khác biệt.
Sự phát triển và các hình thức thể hiện của tộc người được ảnh hưởng bởi các thể chế xã hội và phương thức sản xuất. Khái niệm về tộc người, đa phần để chỉ con người ở trong xã hội nguyên thuỷ hay trong xã hội nô lệ, phong kiến. Những con người ấy thường sẽ sinh hoạt theo bộ lạc, bộ tộc b. Dân tộc (Quốc gia, nation) Dân tộc quốc gia là “hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa”.
Ngoài ra, chủ nghĩa Mác cũng có một khái niệm tương tự về dân tộc “là những hình thức cộng đồng người khá ổn định, được hình thành lâu đời trong lịch sử với những đặc trưng: có chung một lãnh thổ thống nhất; có nhà nước và hệ thống luật pháp chung; có phương thức sinh hoạt kinh tế chung; có ngôn ngữ chung làm công cụ giao 4 tiếp; có chung nền văn hóa, thể hiện qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán,… tạo nên bản sắc riêng của dân tộc đó.” Nation, không nhất thiết phải là một nhóm người có chung dòng máu, quốc tịch mà hoàn toàn có thể được hình thành nên từ hai hay nhiều bộ tộc có chung ngôn ngữ, văn hoá, lịch sử, vv Đặc trưng nhất của dân tộc quốc gia chính là sự bền vững và chặt chẽ trong cách quản lý nhà nước và kinh tế. So với tộc người, thì rõ ràng, họ là những cá thể có tính tự giác và cũng như suy nghĩ, quan điểm tiến bộ hơn. Dân tộc quốc gia có thể đi theo tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, họ có lãnh thổ riêng và cố định cùng với nền văn hoá đã được lưu truyền. Nation sẽ chú trọng đến cái chung, tức là họ sẽ cố gắng đưa ngôn ngữ, lối sống, vv trở thành thứ dành cho tất cả mọi người, để ai cũng có thể ứng dụng.
Một đặc điểm nữa cũng hết sức nổi bật khi nhắc đến dân tộc quốc gia chính là ý thức về lãnh thổ, chủ quyền của họ. Ví dụ có thể kể đến chính đất nước ta. Mỗi khi có những xung đột, ảnh hưởng liên quan đến vấn đề xâm phạm lãnh thổ thì nhân dân ta đều tỏ rõ thái độ và quan điểm cứng rắn trước những sự xâm lăng này. Đơn cử như những hành động của Trung Quốc khi hết lần này đến lần khác đều cố gắng chiếm lấy phần lãnh thổ của nước ta thì Đảng và Chính phủ luôn đưa ra những tuyên bố, nhận định đanh thép trước vấn đề.
Đặc điểm của dân tộc Phần lớn mọi dân tộc sinh sống trong một quốc gia. Một số dân tộc khác chủ yếu sống ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được coi là tổ quốc của một nhóm dân tộc nhất định được gọi là "nhà nước - dân tộc". Mặc dù vẫn còn những cuộc tranh chấp thô bạo về tính hợp pháp của chúng, nhưng phần lớn các quốc gia hiện đại thuộc loại này.
Trong những trường hợp có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc, dân tộc nào có quyền lợi trước tiên. Mỗi dân tộc đều sẽ có những phương thức sinh hoạt kinh tế riêng. Có thể coi đây là đặc điểm nổi bật nhất của dân tộc bởi lẽ các mối quan hệ về kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, cá thể sinh sống trong cộng đồng đó, tạo nên nền tảng bền vững cho chính dân tộc đó. Một đặc điểm nữa chính là sự đa dạng về mặt ngôn ngữ, văn hoá của từng dân tộc khác nhau.
Hiện nay, có đến gần 200 ngôn ngữ vẫn còn đang được sử dụng. Sự lớn 5 mạnh của từng dân tộc cũng có thể được biểu hiện qua số lượng người sử dụng ngôn ngữ đó hay thấy được mức độ phổ biến của ngôn ngữ, chữ viết ấy trong đời sống hiện nay. Ví dụ như ở các trường Đại học ngoại ngữ, những chuyên ngành ngôn ngữ Anh hay ngôn ngữ Trung lại có sự ưa thích hơn là ngôn ngữ Ả Rập. Điều này cũng thể hiện được tính đa dạng về văn hoá khi mỗi nước lại có sự khác nhau về mặt nhận thức và tình cảm.
Từ đó tạo nên cho mỗi dân tộc một bản sắc riêng góp phần cho thế giới một bảng màu đa sắc 2. Quan điểm của Mác Lênin về vấn đề dân tộc: 2. Xu hướng phát triển khách quan của dân tộc Xu hướng thứ nhất là ý thức dân tộc phát triển trong các cộng đồng dân cư để xác lập các cộng đồng dân cư độc lập. Thật vậy, xu hướng này đã dẫn đến cuộc đấu tranh chống áp bức dân tộc và thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.
Xu hướng này rất nổi bật trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản và nó vẫn tồn tại trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Theo xu hướng thứ hai, các nhóm dân tộc sống trong cùng một quốc gia, thâm chí ở nhiều quốc gia, muốn hợp tác. Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, xu hướng này phát triển. Trong xã hội tư bản, sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự giao thoa về mặt kinh tế, xã hội cũng như sự đổi mới của khoa học công nghệ đã khiến các dân tộc có cơ hội được xích lại gần nhau, tạo mối quan hệ quốc tế, thống nhất.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Trong mối quan hệ giữa các dân tộc, đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc. Trước luật pháp của mỗi quốc gia và luật pháp quốc tế thì không một quốc gia nào có thể duy trì sự bóc lột của mình với một quốc gia khác. Mỗi quốc gia, dân tộc đều bình đẳng như nhau, dù cho dân tộc ấy có hùng mạnh hay yếu thế thì họ luôn có quyền được và được pháp luật quốc tế bảo hộ và có cơ hội được thể hiện bản sắc dân tộc mình trên trường quốc tế. Các dân tộc được quyền tự quyết Mỗi dân tộc đều có quyền được tự quyết định, tự làm chủ và lãnh đạo vận mệnh của quốc gia.
Quyền tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về tài chính, chính trị, xã hội. Thêm vào đó, nó còn bao gồm thêm quyền tự nguyện thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của chính dân tộc đó và như quyền được liên hiệp với các dân tộc 6 khác dựa trên một cơ sở bình đẳng giữa các dân tộc để từ đó xây dựng mối quan hệ hợp tác và hữu nghị. Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc Trong cương lĩnh dân tộc của các đảng cộng sản, tư tưởng cơ bản là liện hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân.
Đồng thời, phản ánh sự thống nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng các giai cấp Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc xác định những mục tiêu cần thiết, bao gồm việc xác định các phương pháp để giải quyết quyền tự quyết và quyền bình đẳng. Đồng thời nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở chắc chắn để làm tiền đề cho sự đoàn kết các giai cấp dân tộc với nhau, trở thành một ví dụ đẹp về lòng yêu nước thời đại. Đối chiếu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin với một số đặc điểm của dân tộc nước ta hiện nay Sự cố kết dân tộc và sự hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta.
Điều này đã trở thành truyền thống và mạnh mẽ và đã được thử thách trong cuộc đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ Một kết cấu nông thôn bền chặt sớm xuất hiện do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước. Dân tộc ta đã phát triển từ rất sớm và trở thành một quốc gia thống nhất vào thời kỳ phong kiến sau khi chống lại giặc ngoại xâm. Đoàn kết là một xu hướng khách quan kết nối các dân tộc trên cơ sở có chung lợi ích, vận mệnh lịch sử và tương lai. Tuy nhiên, quan hệ dân tộc thường có những yếu tố tiêu cực cũng như những yếu tố tích cực.
Các thế lực thù địch và chủ nghĩa đế quốc luôn sử dụng mọi cách để chia rẽ dân tộc và can thiệp vào nội bộ quốc gia ta. Do đó, nhiệm vụ chính của nhân dân là duy trì truyền thống đoàn kết, loại bỏ thành kiến, nghi kị dân tộc và kiên quyết đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù. Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, nhưng một số dân tộc sống tương đối tập trung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt trong từng khu vực. Do đó, 7 các dân tộc của nước ta không có lãnh thổ, nền kinh tế và sự thống nhất hữu cơ giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội.
Chênh lệch về văn hóa và trình độ phát triển kinh tế cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Để đạt được sự bình đẳng và đoàn kết dân tộc ở quốc gia chúng ta, các đặc điểm giữa các dân tộc và giữa các vùng dân cư phải được chú ý.Bởi vì họ chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên, một số dân tộc có trình độ rất thấp.