Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt ban đầu là 7.226 ha và hơn 300 ha diện tích mặt hồ. Vườn sở hữu hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng thường xanh đất thấp và hồ tự nhiên trên núi đá vôi lớn nhất Việt Nam. Khu vực này đã được công nhận là Vườn Di sản ASEAN năm 2003, Khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) thứ 1938 của thế giới vào năm 2011 và Di tích Quốc gia Đặc biệt năm 2012. Hồ Ba Bể nằm ở trung tâm Vườn Quốc gia, gồm ba nhánh thông nhau là Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng, được UNESCO xếp vào danh sách một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên đặc biệt cần được bảo vệ.

Mặc dù có giá trị sinh thái và tiềm năng du lịch lớn, môi trường khu vực đang đối mặt với nhiều áp lực nghiêm trọng. Sự gia tăng khách du lịch cùng hạ tầng thu gom, xử lý chất thải chưa đồng bộ làm nảy sinh tình trạng xả rác bừa bãi trên các tuyến giao thông, đường mòn và khu thắng cảnh. Đặc biệt, lòng hồ Ba Bể bị bồi lắng nhanh chóng do hoạt động khai thác khoáng sản xung quanh hồ, tình trạng chặt phá rừng, khai thác gỗ nghiến trái phép và tập quán phát nương làm rẫy. Một đặc thù lớn của VQG Ba Bể là có dân cư sinh sống trực tiếp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (hơn 3.000 nhân khẩu tại 15 thôn bản), đời sống phụ thuộc chủ yếu vào đất rừng và canh tác nông nghiệp với tỷ lệ hộ nghèo cao (riêng xã Nam Mẫu là 49,05%). Trong bối cảnh đó, nhận thức và hành vi của cộng đồng địa phương là yếu tố quyết định đến hiệu quả bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.

Đề tài xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Đánh giá nhận thức của người dân về một số vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và công tác bảo vệ môi trường tại vùng lõi VQG Ba Bể.
  2. Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết, nhận thức của người dân về một số vấn đề môi trường và công tác bảo vệ môi trường.
  • Phạm vi không gian: Vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (tập trung khảo sát tại các thôn thuộc xã Nam Mẫu, Khang Ninh và Quảng Khê).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 21/01/2014 đến ngày 30/04/2014.
  • Địa điểm thực tập: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm căn bản dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình chuyên ngành:

  • Khái niệm về Vườn Quốc gia (khu vực tự nhiên bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng hoặc loài nguy cấp theo Luật Đa dạng sinh học 2008).
  • Các định nghĩa chuẩn tắc theo Luật Bảo vệ Môi trường: Môi trường, thành phần môi trường, ô nhiễm môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, chất thải, rác thải, quản lý chất thải, sự cố môi trường và quản lý môi trường.
  • Tiêu chuẩn vệ sinh: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh ban hành kèm theo Thông tư số 27/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011 của Bộ Y tế (QCVN 01:2011/BYT).
  • Quy định bảo tồn loài: Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ IUCN (2009, 2012) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
  • Khung tiếp cận nhận thức: Ứng dụng mô hình KAP (Kiến thức – Thái độ – Thực hành / Knowledge, Attitude, Practice) thông qua việc kế thừa các nghiên cứu thực nghiệm tương đồng tại Việt Nam (nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn tại Đại học Y Dược Thái Nguyên; kết quả khảo sát nhận thức pháp luật đất đai và môi trường của Chương trình SELMA - Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu; điều tra nhận thức biến đổi khí hậu của Lê Văn Khoa; nghiên cứu phân loại rác thải tại thị xã Thủ Dầu Một của Đại học Bình Dương).

Tác giả kết hợp ba nhóm phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng, thủy văn, địa chất, hiện trạng tài nguyên rừng từ tài liệu lưu trữ của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, Ban Quản lý VQG Ba Bể, UBND các xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê; số liệu điều tra kiểm kê rừng năm 2011-2012 của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Đông Bắc Bộ.
  2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc sẵn kết hợp phỏng vấn trực tiếp và quan sát thực địa. Cỡ mẫu điều tra gồm 50 hộ gia đình sinh sống tại vùng lõi VQG Ba Bể.
  3. Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tổng hợp và tính toán tỷ lệ phần trăm cơ cấu, lập bảng số liệu và biểu đồ để phân tích thực trạng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa bảo tồn sinh thái và hoạt động sinh kế, du lịch tại hồ Ba Bể; xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu, 3 yêu cầu đối với dữ liệu và tính khả thi của giải pháp, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên môi trường cấp cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp cơ sở lý luận về quản lý môi trường và suy thoái tài nguyên. Phần này điểm luận các vấn đề môi trường cấp bách toàn cầu (suy giảm diện tích và chất lượng rừng nhiệt đới, khủng hoảng đa dạng sinh học, khan hiếm nước ngọt, cạn kiệt năng lượng hóa thạch, biến đổi khí hậu, bùng nổ dân số) và thực trạng môi trường tại Việt Nam (suy giảm độ che phủ rừng tự nhiên còn 7% diện tích nguyên sinh; thoái hóa đất sản xuất nông nghiệp; cạn kiệt nguồn nước ngọt; ô nhiễm chất thải rắn và nước thải nông thôn). Đồng thời, tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu trước đây về nhận thức pháp luật bảo vệ môi trường, nhận thức về tác động của biến đổi khí hậu, hành vi phân loại rác thải sinh hoạt và mô hình thực hành vệ sinh môi trường nông thôn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng điều tra là nhận thức môi trường của 50 hộ dân vùng lõi; quy định địa bàn nghiên cứu tại các xã vùng lõi VQG Ba Bể trong khung thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2014; mô tả quy trình thiết kế phiếu phỏng vấn, khảo sát thực tế và các phương pháp thống kê xử lý thông tin sơ cấp, thứ cấp.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày dữ liệu toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm mẫu khảo sát và hiện trạng môi trường thực tế tại vùng lõi VQG Ba Bể:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội VQG Ba Bể

  • Vị trí và diện tích: Tổng diện tích tự nhiên của VQG là 10.048 ha, trải rộng trên 7 xã thuộc huyện Ba Bể (Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Hoàng Trĩ) và 1 xã thuộc huyện Chợ Đồn (Nam Cường). Diện tích tính lại theo hệ bản đồ VN2000 gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 4.488,3 ha; phục hồi sinh thái 5.519,7 ha; hành chính dịch vụ 40,0 ha. Đất có rừng chiếm 7.724,8 ha (độ che phủ 75,6%), trong đó rừng tự nhiên chiếm 99,6% và rừng trồng chỉ có 28,1 ha. Đất chưa có rừng còn 1.301,2 ha, trong đó nương rẫy không cố định chiếm tới 725,7 ha.
  • Đa dạng sinh học: Ghi nhận 26 loài thực vật bậc cao quý hiếm (16 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 như Lim xanh, Nghiến, Sến mật, Chò chỉ, Trám đen; 1 loài đặc hữu là Trúc dây Ampelocalamus sp.); 316 loài động vật có xương sống trên cạn, 107 loài cá, trong đó có 41 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (Voọc đen má trắng, Cầy vằn bắc, Rắn hổ chúa, Gấu ngựa, Báo lửa).
  • Dân sinh - kinh tế: Vùng lõi có khoảng 3.000 dân thuộc 15 thôn (xã Nam Mẫu 9 thôn, Khang Ninh 3 thôn, Quảng Khê 3 thôn); người Tày và Dao chiếm gần 90%. Lao động nông - lâm nghiệp chiếm 93,2% lực lượng lao động. Bình quân lương thực vùng cao chỉ đạt 150 - 180 kg/người/năm (so với mức trung bình 520 kg/người/năm của toàn vùng). Tỷ lệ hộ nghèo xã Nam Mẫu chiếm tới 49,05%.

2. Đặc điểm của mẫu khảo sát (N = 50)

  • Về giới tính: 33 nam (chiếm 66,0%) và 17 nữ (chiếm 34,0%).
  • Về độ tuổi: Nhóm 20-29 tuổi chiếm 22,0% (11 người); 30-39 tuổi chiếm 28,0% (14 người); 40-49 tuổi chiếm 40,0% (20 người); 50-59 tuổi chiếm 6,0% (3 người); từ 60 tuổi trở lên chiếm 4,0% (2 người). Người trong độ tuổi lao động chiếm 96,0%.
  • Về nghề nghiệp: Làm nông nghiệp chiếm 44,0% (22 người); buôn bán và dịch vụ chiếm 26,0% (13 người); cán bộ, công viên chức nhà nước chiếm 12,0% (6 người); làm nghề tự do chiếm 8,0% (4 người); già yếu/hưu trí chiếm 6,0% (3 người); học sinh/sinh viên chiếm 4,0% (2 người).

3. Hiện trạng sử dụng nước, xả thải và vệ sinh môi trường

Yếu tố khảo sát Phân loại cụ thể Số hộ (N=50) Tỷ lệ (%)
Nguồn nước sinh hoạt Nước khe, suối trên rừng 31 62,0
Giếng đào 10 20,0
Giếng khoan 5 10,0
Nước hồ Ba Bể (chỉ dùng giặt giũ) 4 8,0
Nước máy 0 0,0
Hệ thống lọc nước Không sử dụng hệ thống lọc (dùng trực tiếp) 44 88,0
Có sử dụng bình lọc đơn giản 3 6,0
Đánh giá nước có vấn đề về mùi 4 8,0
Hiện trạng cống thoát nước Không có cống thải 46 92,0
Cống thải lộ thiên 4 8,0
Cống thải có nắp đậy 0 0,0
Nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt Thải trực tiếp xuống hồ, suối 29 58,0
Ngấm trực tiếp xuống đất 13 26,0
Thải nơi khác 8 16,0
Cống thải chung / Bể tự hoại 0 0,0
Hình thức thải bỏ rác sinh hoạt Đổ rác tùy nơi / gom lại rồi tự đốt 30 60,0
Hợp đồng thu gom (Hội phụ nữ, 2 lần/tháng) 10 40,0
Hố rác riêng hợp vệ sinh / Bãi rác chung 0 0,0
Loại hình nhà vệ sinh Nhà vệ sinh tự hoại (hợp vệ sinh theo chuẩn) 7 14,0
Nhà vệ sinh hai ngăn (hầu hết không đạt chuẩn) 15 30,0
Hố xí đất 26 52,0
Không có nhà vệ sinh 2 4,0
Tiếp nhận nước thải nhà vệ sinh Ngấm trực tiếp xuống đất 38 76,0
Bể tự hoại 7 14,0
Thải ra sông, suối 3 6,0
Thải trực tiếp xuống hồ 2 4,0

4. Các hoạt động ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái

  • Khai thác cát sỏi: Hoạt động diễn ra phổ biến tại các xã Khang Ninh và Quảng Khê (có 11/20 hộ điều tra tham gia khai thác). Việc khai thác nhằm mục đích xây dựng và thương mại (đặc biệt là hoạt động của Hợp tác xã Sông Năng) làm tăng nguy cơ bồi lắng lòng hồ.
  • Đánh bắt thủy sản: Hoạt động giăng lưới đánh cá tập trung nhiều ở xã Nam Mẫu ven hồ. Dù Ban Quản lý quy định kích thước mắt lưới tối thiểu 3x3 cm, việc kiểm soát thực tế còn gặp nhiều khó khăn.
  • Canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản: Tồn tại 725,7 ha nương rẫy không cố định trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái, đe dọa trực tiếp tài nguyên rừng và gây xói mòn đất.

Phần 5: Kết luận

Khái quát lại các phát hiện thực nghiệm về nhận thức môi trường, chỉ huy cơ sở hạ tầng thiếu hụt và sự cần thiết phải can thiệp chính sách.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu cung cấp số liệu thực nghiệm nguyên gốc về thực trạng hạ tầng và nhận thức bảo vệ môi trường của 50 hộ gia đình tại vùng lõi VQG Ba Bể:

  • 100% hộ dân không có nước máy; 62,0% dùng nước khe suối tự chảy và 88,0% sử dụng trực tiếp không qua lọc. Dù nguồn nước chảy qua núi đá vôi có nguy cơ nhiễm canxi và bị đục vào mùa mưa, 88,0% người dân vẫn nhận định nước không có vấn đề gì.
  • 92,0% số hộ hoàn toàn không có rãnh cống thoát nước; 58,0% xả thẳng nước thải sinh hoạt xuống hồ Ba Bể và hệ thống sông suối; 0% hộ gia đình có bể tự hoại tiếp nhận nước thải sinh hoạt chung.
  • 60,0% hộ gia đình vứt rác tùy tiện hoặc tự đốt; dịch vụ thu gom rác mới chỉ bao phủ 40,0% số hộ (tập trung tại 3 thôn làm du lịch gồm Pác Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc do Hội Phụ nữ đảm nhiệm với tần suất 2 lần/tháng). Toàn bộ vùng lõi không có bãi rác tập trung hay hố rác đạt quy chuẩn.
  • Đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2011/BYT, chỉ có 14,0% hộ gia đình có công trình vệ sinh đạt chuẩn (nhà tiêu tự hoại tại các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch, homestay). Có tới 52,0% hộ dùng hố xí đất sơ sài, 30,0% dùng nhà tiêu hai ngăn không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật (lấy phân ủ chưa đủ 6 tháng, để phát sinh ruồi nhặng), và 4,0% hộ không có nhà vệ sinh. 86,0% nước thải từ khu vệ sinh thải trực tiếp ra môi trường (76% ngấm đất, 10% thải ra sông, suối, hồ).

Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất:

  1. Giải pháp tuyên truyền và giáo dục môi trường: Đẩy mạnh truyền thông qua họp thôn bản, lồng ghép hướng dẫn kỹ thuật xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân loại rác thải tại nguồn và phổ biến các chế tài xử phạt theo Luật Bảo vệ Môi trường.
  2. Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Xây dựng hệ thống rãnh thoát nước thải có nắp đậy tại các cụm dân cư ven hồ; mở rộng mạng lưới thu gom và quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh; hỗ trợ kinh phí cho các hộ nghèo xây dựng nhà vệ sinh tự hoại hoặc hố xí hai ngăn đúng quy chuẩn QCVN 01:2011/BYT.
  3. Quản lý tài nguyên và sinh kế bền vững: Kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác cát sỏi của Hợp tác xã Sông Năng; siết chặt quy định về kích thước mắt lưới đánh bắt cá (3x3 cm); quy hoạch ổn định đất nương rẫy cố định thay thế nương rẫy du canh (hiện còn 725,7 ha); mở rộng mô hình giao khoán bảo vệ rừng và du lịch cộng đồng (homestay) để giảm áp lực khai thác gỗ nghiến và khoáng sản.

Về mặt đóng góp, nghiên cứu phản ánh chân thực các mâu thuẫn nội tại giữa đời sống của cộng đồng dân cư bản địa nghèo với yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của một Khu Ramsar quốc tế, cung cấp dữ liệu cơ sở cho cơ quan quản lý tài nguyên địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn cụ thể được xác định từ phạm vi nghiên cứu:

  • Dung lượng mẫu khảo sát còn nhỏ (N = 50 hộ gia đình), chưa bao quát toàn bộ 15 thôn bản nằm trong vùng lõi của VQG Ba Bể.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (hơn 3 tháng, từ 21/01/2014 đến 30/04/2014), chủ yếu thu thập dữ liệu định tính và thống kê tỷ lệ phần trăm mô tả, chưa tiến hành các phân tích hồi quy tương quan đa biến giữa học vấn, thu nhập với hành vi xả thải.
  • Chưa tiến hành phân tích thực nghiệm các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh của mẫu nước mặt hồ Ba Bể và nước ngầm tại các điểm tiếp nhận chất thải.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng cỡ mẫu điều tra trên toàn bộ các thôn vùng đệm và vùng lõi; lồng ghép quan trắc chất lượng nước định kỳ tại các điểm xả thải sinh hoạt ven hồ; nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình du lịch homestay gắn với công trình xử lý nước thải quy mô hộ gia đình.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Lâm nghiệp và Phát triển Nông thôn khi tìm kiếm tài liệu thực địa về xung đột bảo tồn tại các khu rừng đặc dụng miền núi.
  • Cán bộ quản lý tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, Ban Quản lý VQG Ba Bể và chính quyền địa phương trong việc hoạch định kế hoạch thu gom rác thải, xây dựng hương ước thôn bản về bảo vệ nguồn nước và đầu tư nhà tiêu hợp vệ sinh.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến bộ số liệu hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp, hệ thống thực vật/động vật quý hiếm (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007) và cơ cấu nhân khẩu học xã Nam Mẫu thời kỳ 2011-2014.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nước sinh hoạt chính của người dân vùng lõi VQG Ba Bể là nguồn nào?

Theo kết quả khảo sát 50 hộ dân, 62,0% số hộ (31 hộ) sử dụng nước tự chảy từ các khe, suối trên núi đá vôi dẫn về bằng đường ống; 20,0% dùng giếng đào thủ công; 10,0% dùng giếng khoan và 8,0% dùng nước hồ Ba Bể (chỉ dùng cho việc giặt giũ). Không có hộ gia đình nào sử dụng nước máy. Có 88,0% số hộ sử dụng nước trực tiếp mà không qua bất kỳ hệ thống lọc nào.

2. Tỷ lệ hộ gia đình tại vùng lõi có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy chuẩn QCVN 01:2011/BYT là bao nhiêu?

Chỉ có 14,0% số hộ (7 hộ có điều kiện kinh tế khá giả hoặc làm dịch vụ du lịch) sở hữu nhà vệ sinh tự hoại đạt quy chuẩn. 52,0% hộ sử dụng hố xí đất không đảm bảo vệ sinh, 30,0% hộ sử dụng nhà tiêu hai ngăn nhưng không tuân thủ quy trình ủ phân 6 tháng và để phát sinh ruồi nhặng, còn lại 4,0% hộ hoàn toàn không có công trình vệ sinh.

3. Công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại vùng lõi VQG Ba Bể được thực hiện ra sao?

Có 60,0% số hộ đổ rác tùy tiện ra môi trường xung quanh hoặc tự thu gom để đốt tại vườn. Hoạt động thu gom có tổ chức mới đạt 40,0%, thực hiện thông qua hợp đồng với Hội Phụ nữ xã Nam Mẫu (tần suất 2 lần/tháng) và chỉ triển khai được tại 3 thôn ven hồ phục vụ du lịch gồm Pác Ngòi, Bó Lù và Cốc Tộc. Khu vực này hoàn toàn chưa có bãi rác tập trung hay lò đốt rác đạt chuẩn.

4. Những hoạt động dân sinh nào đang đe dọa trực tiếp đến môi trường lòng hồ Ba Bể?

Ba tác động dân sinh lớn nhất gồm: (1) Hoạt động khai thác cát sỏi ven sông suối tại xã Khang Ninh và Quảng Khê (đặc biệt là của HTX Sông Năng) làm tăng nguy cơ bồi lắng lòng hồ; (2) Hoạt động đánh bắt cá ven hồ bằng lưới không đúng kích thước quy định; (3) Tình trạng canh tác 725,7 ha nương rẫy không cố định trong các phân khu bảo vệ và khai thác gỗ nghiến trái phép.

5. Cơ cấu nghề nghiệp và độ tuổi của 50 người tham gia phỏng vấn phân bố như thế nào?

Về nghề nghiệp: Nông nghiệp chiếm 44,0% (22 người); buôn bán, dịch vụ chiếm 26,0% (13 người); cán bộ, công chức chiếm 12,0% (6 người); nghề tự do chiếm 8,0% (4 người); về hưu hoặc già yếu chiếm 6,0% (3 người); học sinh, sinh viên chiếm 4,0% (2 người). Về độ tuổi: 96,0% thuộc độ tuổi lao động từ 20 đến 59 tuổi (trong đó nhóm 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,0%), người từ 60 tuổi trở lên chiếm 4,0%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dầu Thị Mai đã phản ánh trung thực bức tranh hiện trạng môi trường và nhận thức của người dân tại vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể năm 2014. Kết quả điều tra thực nghiệm trên 50 hộ dân chỉ ra điểm nghẽn lớn về hạ tầng kỹ thuật với 92% hộ thiếu cống rãnh, 86% nước thải vệ sinh không qua xử lý và 60% rác thải xả tự do ra môi trường tự nhiên. Các dữ liệu này là căn cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch điểm dân cư, mở rộng dịch vụ thu gom chất thải và nâng cao nhận thức bảo tồn di sản cho cộng đồng bản địa.