MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bạo lực gia đình (BLGĐ) là một vấn đề thu hút nhiều quan tâm, lo lắng của toàn xã hội. Việc ngăn chặn và tiến hành đẩy lùi BLGĐ không chỉ là mối quan tâm của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới. Trên nhiều diễn đàn quốc tế, vấn đề BLGĐ được nhìn nhận như một sự vi phạm nhân quyền đối với nhân phẩm con người.
Ở Việt Nam, tình trạng BLGĐ ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nghiêm trọng bởi tính chất và hậu quả của nó. Hiện nay, trên phạm vi cả nước, BLGĐ đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, với nhiều đối tượng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là bạo lực thể xác và tinh thần đối với phụ nữ, trẻ em gái mà người gây ra bạo lực là chính người chồng/cha của họ. BLGĐ gây ra nhiều hậu quả ở nhiều mức độ khác nhau cho gia đình và xã hội; BLGĐ không chỉ gây những tổn thương về thể xác, tâm lý, tình cảm của các thành viên trong gia đình mà c n gây những tổn thất về kinh tế. Theo thống kê của tòa án nhân dân tối cao, trung bình mỗi năm, cả nước có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân là do bạo lực gia đình; c n theo thống kê của các bệnh viện, trung tâm y tế, các phòng cấp cứu lớn của cả nước, hàng năm có trên 27% phụ nữ bị ngược đãi phải nhập viện, hơn 10% phụ nữ phải điều trị y khoa nghiêm trọng do bạo lực gia đình [26].
Không những thế BLGĐ c n có những tác động tiêu cực tới trẻ em trong các gia đình đó. Trong nhiều trường hợp, BLGĐ tạo nên mầm mống của tội phạm và tệ nạn xã hội, là tác nhân gây hậu quả nghiêm trọng cho cuộc đời và nhân cách con người. Để ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình, ngoài các văn bản luật pháp quốc tế, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý về PCBLGĐ, đặc biệt, Luật PCBLGĐ được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008. Ngoài ra Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 08/2009/NĐ-CP về hướng dẫn chi tiết một số điều thi hành Luật PCBLGĐ; Nghị 4 định số 110/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính về bạo lực gia đình.
Cùng với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm ngăn ngừa, răn đe và qui định các mức xử phạt đối với người có hành vi BLGĐ, nhiều hoạt động can thiệp, hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình đã và đang được các cơ quan chức năng của nhà nước, các tổ chức xã hội, đoàn thể và cộng đồng tích cực thực hiện. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các chuyên gia, nhà nghiên cứu cũng đã có những công trình nghiên cứu tìm hiểu về nguyên nhân, thực trạng và hậu quả của BLGĐ, để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế kịp thời. Kết quả của các công trình nghiên cứu này cho thấy, nguyên nhân của thực trạng BLGĐ hiện nay là do: bất bình đẳng giới, khó khăn về kinh tế, hạn chế trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCBLGĐ, sự quan tâm chưa đầy đủ của cộng đồng tới PCBLGĐ, vai trò mờ nhạt của cơ quan đoàn thể trong PCBLGĐ, tệ nạn xã hội (rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, ngoại tình, ghen tuông.), đặc biệt là nguyên nhân xuất phát từ nhận thức của người dân về BLGĐ c n nhiều hạn chế. Đây chính là nguyên nhân mà tác giả quan tâm và muốn tìm hiểu.
Yên Bái là một tỉnh miền núi với 30 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người, 2 dân tộc có từ 2.000 người, 3 dân tộc có từ 500 - 2. Về kinh tế - xã hội, Yên Bái là một tỉnh nghèo, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, liên lạc còn nhiều hạn chế, trình độ dân trí thấp, việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ và ph ng, chống BLGĐ c n gặp nhiều khó khăn. Ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống BLGĐ (2007), UBND tỉnh Yên Bái đã có nhiều chủ trương tích cực để đưa Luật vào cuộc sống: Ban hành Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 11/10/2008 về tổ chức chiến dịch truyền thông phòng, chống BLGĐ và bình đẳng giới trên toàn tỉnh; ngày 23/7/2009 ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND về việc tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống BLGĐ. Theo kết quả điều tra thực trạng BLGĐ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện năm 2012 cho thấy, số vụ BLGĐ trên địa 5 bàn tỉnh Yên Bái đã giảm đi đáng kể.
Từ năm 2010 đến 6 tháng đầu năm 2012 có 1. Trong đó, năm 2010 có 651 vụ, đến năm 2011 giảm còn 335 vụ, đến tháng 6 năm 2012 có 383 vụ. Vậy, vì sao BLGĐ ở Yên Bái lại giảm đi trong những năm gần đây? Phải chăng do nhận thức của người dân về BLGĐ đã được nâng cao nên số lượng các vụ BLGĐ trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm? Để làm rõ hơn những vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nhận thức về bạo lực gia đình của người dân tỉnh Yên Bái - nghiên cứu tại phường Ngu ễn Thái ọc và xã Lương Thịnh, hu ện Trấn n”. Tác giả hy vọng, kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung thêm nguồn tư liệu, giúp các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ cũng như PCBLGĐ.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Với những hậu quả nghiêm trọng gây ra cho xã hội, BLGĐ đã và đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức xã hội và các tổ chức phi chính phủ dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau từ vi mô đến vĩ mô. Tuy nhiên, trong những tài liệu đã tiếp cận được, tác giả nhận thấy những công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến các hướng tiếp cận như: Nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân BLGĐ; nghiên cứu về nhận thức, thái độ và hành vi BLGĐ. Ngoài ra còn một số nghiên cứu đề cập đến các vấn đề như: Nghiên cứu bạo lực trên cơ sở giới, nghiên cứu Luật phòng, chống BLGĐ và các giải pháp phòng, chống BLGĐ… 2. Nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân bạo lực gia đình Trong vài năm trở lại đây, nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân BLGĐ được xem là chủ đề thu hút giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn và các tổ chức quốc tế.
Có thể ghi nhận những đóng góp của các nghiên cứu đó trong việc cung cấp thông tin, kiến giải về BLGĐ ở nước ta, qua đó giúp cho các nhà quản lý, các nhà lập pháp trong công tác quản lý gia đình, ph ng chống bạo lực trong gia đình có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, từ những nghiên cứu được công bố gần 6 đây trong các ấn phẩm, các hội thảo khoa học và trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phần lớn các tác giả mới chỉ đề cập và phân loại ra các nguyên nhân dẫn đến hành vi BLGĐ như: Nhận thức về bình đẳng giới và tư tưởng “trọng nam hơn nữ”; do kinh tế gia đình khó khăn, không có việc làm; do trình độ học vấn thấp; do mắc vào các tệ nạn xã hội (nghiện rượu, sử dụng ma túy và chơi cờ bạc.); do ghen tuông, ngoại tình; do áp lực phải sinh con trai, do tập tục lạc hậu, do thiếu sự vào cuộc của các cơ quan chức năng. Tiêu biểu trong hướng nghiên cứu này có bài viết “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Quý đăng trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ (1994) xác định năm nguyên nhân chính của nạn BLGĐ đó là: Kinh tế, nhận thức, văn hoá-xã hội, sức khoẻ và nguyên nhân thuộc về phía phụ nữ. Bên cạnh đó, với cuốn “Bạo lực gia đình trong hoàn cảnh Việt Nam, các hình thức, nguyên nhân và các khuyến nghị hành động”, tác giả Lê Thị Quý bằng phương pháp khảo sát thực tế và phỏng vấn cấu trúc đã phân tích sâu sắc nguyên nhân, hình thức của bạo lực chủ yếu do bất bình đẳng giới; và tác giả cũng có đưa ra một số giải pháp dành cho nạn nhân bị bạo lực.
Năm 2004, “Khảo sát thực trạng bạo lực trong gia đình tại miền Đông Nam bộ” do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện đã đưa ra những con số cụ thể về thực trạng bạo lực trong gia đình tại địa bàn khảo sát; thực trạng hiểu biết về bình đẳng giới, nhận thức của dân về bạo lực gia đình; mâu thuẫn gia đình với vấn đề bạo lực. Nghiên cứu cho rằng, nguyên nhân cơ bản của BLGĐ bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ về bình đẳng giới, tư tưởng trọng nam, khinh nữ. Nguyên nhân thứ hai là do sự khó khăn của đời sống kinh tế, không có việc làm, hạn chế về trình độ học vấn. Một nguyên nhân phổ biến ở các vùng nông thôn là tình trạng lạm dụng rượu, bia hoặc mắc vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy.
Nguyên nhân cuối cùng mà nghiên cứu đề cập đến đó là do ghen tuông và ngoại tình. Nghiên cứu cũng đồng thời khẳng định rằng, bạo lực ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ vợ chồng bền 7 vững, đến nhân cách của trẻ em và đến cơ hội phát triển của phụ nữ. Phần cuối của nghiên cứu là những dự báo về tình hình BLGĐ và những kiến nghị - giải pháp. Năm 2006, hai công trình khoa học mang tên: “Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Huyện Nam Đàn và Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” do Trung tâm Sức khỏe sinh sản và Gia đình thực hiện năm 2008 và “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến BLGĐ đối với phụ nữ tại huyện An Dương, ải Phòng” do nhóm tác giả Lê Minh Thi và Nguyễn Thanh Hà thực hiện đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng BLGĐ liên quan đến bạo lực về tinh thần, kinh tế, thể xác và tình dục.
Kết quả chỉ ra rằng, kiến thức của người dân về các hành vi bạo lực thấp. Phần lớn phụ nữ (93,7%) cho rằng chỉ biết đến bạo lực thể xác, số người biết đến bạo lực tinh thần không cao (38,2%), rất ít người biết đến bạo lực tình dục (2,3%), và có khoảng 1,5% phụ nữ không kể tên được bất cứ một loại bạo lực nào.