CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VỀ HỖ TRỢ TÂM LÝ - XÃ HỘI CHO NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của WHO dựa trên dữ liệu từ năm 2000 đến năm 2018 cũng chỉ ra rằng, bạo lực đối với phụ nữ ngày càng lan rộng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình thấp; có tới 37% phụ nữ sống ở các quốc gia nghèo nhất trên thế giới đã phải đối mặt với bạo lực từ chính chồng hoặc bạn trai; một số quốc gia, có tới 50% phụ nữ phải trải qua tình trạng bạo lực. Theo WHO, bạo lực từ bạn tình là “hình thức bạo lực phổ biến nhất trên toàn cầu”, để lại vết thương tâm lý cho ít nhất 641 triệu phụ nữ (World Health Organization, 2021).
Các chuyên gia nhận thấy, đại dịch Covid-19 ở một khía cạnh nào đó đã tác động tới xu hướng bạo lực gia đình. Ngày 7/5/2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết các dịch vụ trợ giúp khẩn cấp trên khắp châu Âu đã ghi nhận số cuộc gọi liên quan tới bạo lực gia đình tăng đột biến trong bối cảnh các biện pháp phong tỏa được áp đặt tại hầu khắp các nước trong châu lục (World Health Organization, 2020). Theo khảo sát của các chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới, sự phổ biến của nạn bạo lực gia đình đã lan rộng ra nhiều quốc gia. Trên khắp thế giới, tính trung bình có 3 phụ nữ bị giết mỗi ngày vì BLGĐ.
Hơn 40% nạn nhân là phụ nữ bị giết bởi chồng hoặc bạn trai của họ. Phụ nữ từ độ tuổi từ 20 đến 24 có nguy cơ lớn nhất là nạn nhân của bạo hành. Tại Mỹ, 3/10 phụ nữ còn con số này với nam là 1/10 trải qua bạo lực gia đình ít nhất một lần trong đời— thường với những tổn thất nặng nề về cá nhân, gia đình-1 và xã hội (Charlene K Baker et al. Nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng ở nạn nhân, đặc biệt là nhóm phụ nữ yếu thế (Natalie J Sokoloff and Ida Dupont, 2005, Saltanat Childress, 2013, Danielle M Mitnick et al.
9 Do đó, nhiều chương trình hỗ trợ nạn nhân đặt mục tiêu trao quyền và phục hồi cơ hội lựa chọn cho họ (Lisa A Goodman et al. Tuy nhiên, mức độ đạt được mục tiêu này trong thực tế còn hạn chế (Shanti Kulkarni, 2019). Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các chương trình đã chuyển từ định hướng thay đổi xã hội sang mô hình định hướng dịch vụ, và thậm chí có thể tái tạo kiểu lạm dụng cưỡng bức đối với một số nhóm nạn nhân (Katya Fels Smyth et al., 2006, Jill Davies and Eleanor Lyon, 2013). Do đó, gần đây có xu hướng kêu gọi đổi mới các dịch vụ theo hướng tập trung vào nạn nhân, áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang chấn (TIC) để hỗ trợ tốt hơn nhu cầu sức khỏe tâm thần của họ (Shanti Kulkarni, 2019).
Nghiên cứu của Emilomo Ogbe và cộng sự (2020) đã cho thấy hầu hết các nghiên cứu đi trước đều mang đến sự cải thiện về hỗ trợ xã hội và/hoặc kết quả sức khỏe tinh thần của nạn nhân, nhưng có ít bằng chứng về tác động của chúng đối với việc giảm bạo lực hay tăng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Emilomo Ogbe et al. Một nghiên cứu dài hạn đầu tiên về TIC của SAMSHA cho thấy những thân chủ được điều trị với TIC có những cải thiện nhỏ nhưng khá đáng kể về kết quả sức khỏe tâm thần và triệu chứng sang chấn tâm lý so với cách trị liệu thông thường. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy phương pháp này không có tác dụng với những người lạm dụng chất gây nghiện (Allison J Taylor et al. Nghiên cứu của Wilson, Fauci và Goodman (2015) đã thực hiện những đánh giá định tính khá tổng quan về áp dụng TIC trong các chương trình hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình (Joshua M Wilson et al.
Kết quả cho thấy, các nguyên tắc TIC áp dụng trong bối cảnh bạo lực gia đình cũng tương đối nhất quán với lý thuyết về TIC ở các hệ thống dịch vụ hỗ trợ con người khác nhau (Denise E Elliott et al.(Các chương trình về bạo lực gia đình áp dụng các nguyên tắc TIC nhằm nhắc lại và làm sống động những cam kết lâu dài của các chương trình đối với hạnh phúc của thân chủ (Joshua M Wilson et al. Nghiên cứu của Pamela Ponic và cộng sự (2018) cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng phương pháp TIC để giảm thiểu những nguy hại có thể xảy ra bao gồm cả 10 tái sang chấn với những nạn nhân trong quá trình nhận hỗ trợ (Pamela Ponic et al. Nghiên cứu cho thấy các tác động gây sang chấn của bạo lực có những ảnh hưởng lâu dài đối với nạn nhân, cho dù bạo lực đang diễn ra hay đã xảy ra trong quá khứ. Trong quá trình các hệ thống hay cá nhân cung cấp dịch vụ hỗ trợ và tương tác với nạn nhân mà thiếu sự hiểu biết về các tác động phức tạp và lâu dài của bạo lực và sang chấn tâm lý, họ có nguy cơ gây thêm tổn thương cho nạn nhân.
Điển hình là ví dụ về việc nạn nhân, dù là người lớn hay trẻ em, phải kể lại câu chuyện của mình cho nhiều bên trong hệ thống dịch vụ hỗ trợ khác nhau sẽ bị nguy cơ tái sang chấn từ việc phải kể lại đó (Jodie Valpied et al. Các cách tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang chấn và bạo lực là các chính sách và thực tiễn liên quan đến việc cung cấp dịch vụ và chương trình mà - đặc biệt khi chúng cũng dựa trên hiểu biết về bạo lực - hoạt động để giảm thiểu tổn thương cho nạn nhân bạo lực, và hỗ trợ chữa lành và mang lại công bằng cho người bị hại (Pamela Ponic et al. Trong cuốn Retraumatization của Melanie và cộng sự, các tác giả cho rằng trong quá trình cung cấp trị liệu cho các cá nhân trải qua sang chấn tâm lý, nếu không cẩn trọng có thể có các kích hoạt xuất phát từ các sang chấn tâm lý trong quá khứ khiến họ bị tái sang chấn tâm lý (Melanie P Duckworth and Victoria M Follette, 2012). Việc kiểm soát các kích hoạt này cần có sự hiểu biết về những sang chấn tâm lý mà khách hàng đã trải qua (Kirsten Wright and Nicola Laurent, 2021) 1.
Các nghiên cứu trong nước Kết quả điều tra quốc gia về Bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cho thấy có khoảng 62,9% phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần, kinh tế hay kiểm soát hành vi do chồng/bạn tình gây ra trong đời; tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực trong 12 tháng qua là 31,6%; hơn một nửa phụ nữ có chồng/bạn tình (52,9%) đã phải chịu đựng ít nhất một hình thức bạo lực thể xác, tình dục và/hoặc tinh thần do chồng/bạn tình hiện tại hoặc trước đây gây ra. Trong số 62,9% phụ nữ từng chịu bạo lực gia đình, có đến 76% thường bị đe dọa nguy hiểm, 79% thường bị đá, kéo lê, đánh đập nhiều lần, 75% nhiều lần bị chồng ép quan hệ tình dục, 86% thường bị xúc phạm. Theo kết quả điều tra quốc gia năm 11 2021, 32% phụ nữ bị chồng bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục; 90,4% phụ nữ bị chồng bạo lực thể xác hoặc tình dục không tìm kiếm sự giúp đỡ; chỉ 4,8% tìm kiếm sự giúp đỡ của công an (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2019), (Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường, 2010). Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã có hiệu lực từ tháng 7.2008, sửa đổi bổ sung trong năm 2022 và hiệu lực 1/7/2023 thể hiện mức độ quan tâm của nhà nước để ngăn chặn và giải quyết vấn đề này (Quốc hội CHXHCN Việt Nam, 2022).
Nhìn vào các con số, có thể thấy số vụ bạo lực gia đình được báo cáo có giảm qua các năm, ví dụ: số vụ bạo lực gia đình giảm dần qua các năm: năm 2009 là 53. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hồng dưới góc độ công tác xã hội 11/2019 về địa chỉ tin cậy ở thành phố Hải Phòng cho thấy thành phố Hải Phòng có tới 3822 “Địa chỉ tin cậy” ở cộng đồng, 500 nhóm và 110 mô hình câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình tại 100% xã, phường, thị trấn (Nguyễn Thị Thúy Hồng, 2018). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, dù các vụ bạo lực có giảm đi, song số nạn nhân đến với địa chỉ rất ít do hoạt động của “Địa chỉ tin cậy” chưa hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu của nạn nhân, gia đình và cộng đồng. Cách tiếp cận, can thiệp của “Địa chỉ tin cậy” chỉ dừng lại ở biện pháp ngăn chặn tạm thời mà chưa có cách tiếp cận tham vấn cho gia đình, trị liệu gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình, chưa có biện pháp trợ giúp, hỗ trợ nạn nhân, gia đình và cộng đồng trong phòng, chống bạo lực.
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương chưa thực sự chú trọng đến hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có hoạt động của “Địa chỉ tin cậy”. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động “Địa chỉ tin cậy” còn yếu. Điều này thể hiện qua việc hàng năm không có báo cáo, tổng kết đánh giá hoạt động, và các chủ địa chỉ không nhận được hỗ trợ năng lực. Một hạn chế là nhân viên hoạt động dựa trên kinh nghiệm cá nhân chứ không được tập huấn kiến thức và kỹ năng về phòng chống bạo lực gia đình.
Do thiếu hiểu biết về pháp luật, kiến thức và kỹ năng tư vấn, xử lý các vụ việc của các chủ địa chỉ còn hạn chế. Do đó, nạn 12 nhân đến địa chỉ tin cậy chưa được tư vấn đầy đủ kiến thức pháp luật và kỹ năng phòng chống bạo lực gia đình (Nguyễn Thị Thúy Hồng, 2018). Tại Yên Bái, trong những năm trước, Hội phụ nữ đã đồng loạt triển khai địa chỉ tin cậy tới tất cả các xã phường thị trấn. Địa điểm có thể là UBND xã, CA xã hoặc gia đình của một cán bộ HPN tại địa bàn.