Luận án tiến sĩ nhân học xã hội kito giáo và vai trò của nó trong đời sống đạo của người công giáo việt nam

Luận án tiến sĩ nhân học xã hội Kito giáo phân tích vai trò trong đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam qua các khía cạnh văn hóa và xã hội.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

154
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo

1.2. Tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo

1.3. Tài liệu nghiên cứu về các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo

1.4. Tài liệu nghiên cứu về các nội dung cơ bản của nhân học xã hội Kitô giáo

1.5. Tài liệu thần học Kitô giáo

1.6. Tài liệu của các tác giả bên ngoài Giáo hội

1.7. Tài liệu nghiên cứu về vai trò của nhân học xã hội Kitô giáo đến đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam

1.8. Những nghiên cứu của các học giả dưới nhãn quan Kitô giáo

1.9. Những nghiên cứu dưới nhãn quan của khoa học nhân văn

1.10. Những vấn đề luận án kế thừa và những vấn đề nghiên cứu đặt ra

1.10.1. Những vấn đề luận án kế thừa

1.10.2. Những vấn đề nghiên cứu đặt ra

2. CHƯƠNG 2: SỰ RA ĐỜI CỦA NHÂN HỌC XÃ HỘI KITÔ GIÁO

2.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của nhân học xã hội Kitô giáo

2.2. Những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa

2.3. Nội dung triết học của Kinh thánh như cơ sở lý luận của nhân học xã hội Kitô giáo

2.4. Tư tưởng “đối nhân và đối thần” – xuất phát điểm để xây dựng nhân học xã hội Kitô giáo

2.5. Nội dung cơ bản của tư tưởng nhân học triết học trong Kinh thánh

2.6. Các phương diện nội dung triết học cụ thể của Kinh thánh

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG CỦA NHÂN HỌC XÃ HỘI KITÔ GIÁO

3.1. Khái niệm nhân học xã hội và nhân học xã hội Kitô giáo

3.1.1. Khái niệm nhân học xã hội

3.1.2. Khái niệm nhân học xã hội Kitô giáo

3.2. Các phương diện nội dung cơ bản của nhân học xã hội Kitô giáo

3.3. Địa vị của con người trong xã hội

3.4. Quan hệ giữa người với người về tài sản

3.5. Quan hệ giữa người với người về chính trị

3.6. Quan hệ giữa người với người về đạo đức

3.7. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: VAI TRÕ CỦA NHÂN HỌC XÃ HỘI KITÔ GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

4.1. Những bài học về định hướng giá trị của nhân học xã hội Kitô giáo đối với người Công giáo Việt Nam

4.2. Những biểu hiện cụ thể vai trò của nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam

4.3. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách tiếp cận tổng quan nhân học xã hội Kitô giáo và đời sống đạo người Công giáo Việt

Nhân học xã hội Kitô giáo là lĩnh vực nghiên cứu sâu sắc về bản chất con người trong cộng đồng dưới ánh sáng đức tin Kitô. Đặc biệt, trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam, nhân học xã hội Kitô giáo đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành các giá trị đạo đức, văn hóa và tín ngưỡng. Kitô giáo, với tư cách là tôn giáo độc thần, nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa và tha nhân, tạo nên một hệ thống giá trị nhân văn sâu sắc. Việc nghiên cứu nhân học xã hội Kitô giáo không chỉ giúp hiểu rõ về nguồn gốc, cấu trúc và mục đích của con người trong xã hội mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò của các yếu tố văn hóa Công giáo Việt Nam trong đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng. Từ đó, có thể nhận diện được những thách thức và cơ hội trong việc phát huy giá trị nhân học Kitô giáo trong bối cảnh xã hội hiện đại và đa văn hóa tại Việt Nam.

1.1. Tổng quan về nhân học xã hội và nhân học Kitô giáo trong đời sống đạo

Nhân học xã hội là ngành khoa học nghiên cứu con người trong mối quan hệ xã hội và văn hóa. Nhân học Kitô giáo là sự kết hợp giữa nhân học xã hội và giáo lý Kitô, tập trung vào mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa và tha nhân. Trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam, nhân học Kitô giáo được thể hiện qua các giá trị như tình yêu thương, sự tha thứ, và phẩm giá con người. Các tài liệu thần học và Kinh thánh là nguồn gốc quan trọng để hiểu về nhân học Kitô giáo, đồng thời phản ánh sự ảnh hưởng sâu rộng của Kitô giáo đến văn hóa và xã hội Việt Nam.

1.2. Vai trò của nhân học xã hội Kitô giáo trong văn hóa Công giáo Việt Nam

Nhân học xã hội Kitô giáo góp phần định hình văn hóa Công giáo Việt Nam thông qua các giá trị đạo đức và tín ngưỡng. Nó giúp người Công giáo nhận thức về phẩm giá con người, trách nhiệm xã hội và mối quan hệ với Thiên Chúa. Văn hóa Công giáo Việt Nam thể hiện sự hòa nhập giữa truyền thống Kitô giáo và đặc trưng văn hóa dân tộc, tạo nên một cộng đồng tín đồ có bản sắc riêng biệt. Nhân học Kitô giáo cũng là cơ sở để phát triển các hoạt động mục vụ, giáo dục và xã hội trong cộng đồng Công giáo Việt Nam.

II. Hướng dẫn phân tích các thách thức trong nhân học xã hội Kitô giáo và đời sống đạo người Công giáo Việt Nam

Nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức do sự biến đổi xã hội, toàn cầu hóa và sự đa dạng văn hóa. Các thách thức này bao gồm sự xung đột giữa giá trị truyền thống và hiện đại, sự ảnh hưởng của tục hóa, và những khó khăn trong việc duy trì đức tin trong môi trường xã hội đa tôn giáo. Việc phân tích các thách thức này giúp nhận diện các yếu tố cần được điều chỉnh và phát triển để nhân học Kitô giáo tiếp tục đóng vai trò tích cực trong đời sống đạo và xã hội Việt Nam.

2.1. Thách thức từ sự biến đổi xã hội và toàn cầu hóa đối với đời sống đạo Công giáo Việt Nam

Sự biến đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại và quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra những áp lực lớn đối với đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam. Các giá trị truyền thống bị thử thách bởi các xu hướng văn hóa mới, sự phát triển của truyền thông và mạng xã hội làm thay đổi cách thức tiếp nhận và thực hành đức tin. Người Công giáo phải đối mặt với nguy cơ mất gốc văn hóa và sự suy giảm vai trò của giáo lý trong đời sống hàng ngày.

2.2. Vấn đề tục hóa và đa tôn giáo trong bối cảnh nhân học xã hội Kitô giáo

Tục hóa là hiện tượng giảm sút các giá trị tôn giáo trong đời sống xã hội, gây ảnh hưởng đến sự gắn bó của tín đồ với đức tin. Trong bối cảnh Việt Nam đa tôn giáo, sự giao thoa và cạnh tranh giữa các tôn giáo cũng đặt ra thách thức cho việc duy trì và phát huy nhân học xã hội Kitô giáo. Việc xây dựng một cộng đồng Công giáo vững mạnh đòi hỏi sự thích nghi linh hoạt và sáng tạo trong việc truyền đạt giáo lý và thực hành đức tin.

III. Phương pháp luận và giải pháp phát huy nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam

Để phát huy vai trò của nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa ngành kết hợp giữa thần học, nhân học xã hội và khoa học xã hội. Giải pháp bao gồm việc đào tạo nhân sự mục vụ có kiến thức sâu rộng về nhân học Kitô giáo, phát triển các chương trình giáo dục đức tin phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam, và tăng cường đối thoại liên tôn để xây dựng sự hiểu biết và hòa hợp xã hội. Đồng thời, việc ứng dụng các giá trị nhân học Kitô giáo trong các hoạt động xã hội và cộng đồng sẽ góp phần nâng cao chất lượng đời sống đạo và xã hội.

3.1. Phương pháp nghiên cứu đa ngành trong nhân học xã hội Kitô giáo

Phương pháp nghiên cứu đa ngành kết hợp thần học, nhân học xã hội và khoa học xã hội giúp phân tích toàn diện các khía cạnh của nhân học Kitô giáo. Việc sử dụng phương pháp khảo cứu, phân tích văn bản Kinh thánh, giáo lý và các tài liệu thần học kết hợp với khảo sát thực tiễn đời sống tín đồ tạo nên cơ sở khoa học vững chắc cho việc phát triển nhân học xã hội Kitô giáo phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

3.2. Giải pháp giáo dục và đào tạo nhân sự mục vụ theo nhân học Kitô giáo

Đào tạo nhân sự mục vụ có kiến thức sâu sắc về nhân học xã hội Kitô giáo là giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả truyền giáo và phục vụ cộng đồng. Các chương trình đào tạo cần tích hợp giáo lý, thần học và kỹ năng xã hội, đồng thời chú trọng đến việc phát triển phẩm chất đạo đức và khả năng đối thoại văn hóa. Việc này giúp nhân sự mục vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của tín đồ trong bối cảnh xã hội đa dạng và biến động.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam

Nghiên cứu nhân học xã hội Kitô giáo đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống đạo người Công giáo Việt Nam, từ giáo dục, mục vụ đến các hoạt động xã hội và văn hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tác động tích cực của nhân học Kitô giáo trong việc củng cố đức tin, xây dựng cộng đồng tín đồ đoàn kết và phát triển các giá trị đạo đức xã hội. Các chương trình đào tạo, sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động bác ái xã hội đều phản ánh sự thấm nhuần các nguyên tắc nhân học Kitô giáo, góp phần nâng cao chất lượng đời sống đạo và xã hội.

4.1. Ứng dụng nhân học xã hội Kitô giáo trong giáo dục và mục vụ Công giáo Việt Nam

Nhân học xã hội Kitô giáo được tích hợp trong các chương trình giáo dục đức tin và mục vụ nhằm giúp tín đồ hiểu rõ về phẩm giá con người, trách nhiệm xã hội và mối quan hệ với Thiên Chúa. Qua đó, người Công giáo được trang bị kiến thức và kỹ năng sống đạo phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại, góp phần xây dựng cộng đồng đức tin vững mạnh và phát triển bền vững.

4.2. Kết quả nghiên cứu về tác động xã hội của nhân học Kitô giáo trong cộng đồng Công giáo Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy nhân học Kitô giáo có tác động tích cực trong việc thúc đẩy các hoạt động xã hội, từ thiện và xây dựng văn hóa sống đạo. Các giá trị như tình yêu thương, sự tha thứ và công bằng xã hội được thể hiện rõ trong các phong trào bác ái, hỗ trợ người nghèo và các hoạt động cộng đồng. Điều này góp phần nâng cao hình ảnh và vai trò của người Công giáo trong xã hội Việt Nam đa tôn giáo và đa văn hóa.

V. Bí quyết kết luận và triển vọng phát triển nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo người Công giáo Việt Nam

Nhân học xã hội Kitô giáo là nền tảng vững chắc cho đời sống đạo người Công giáo Việt Nam, góp phần xây dựng con người toàn diện và cộng đồng tín đồ đoàn kết. Kết luận nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục nghiên cứu, phát huy các giá trị nhân học Kitô giáo trong bối cảnh xã hội hiện đại và hội nhập toàn cầu. Triển vọng phát triển bao gồm việc mở rộng đối thoại liên tôn, ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền giáo, và phát triển các mô hình sinh hoạt cộng đồng sáng tạo, phù hợp với đặc thù văn hóa Việt Nam và xu hướng phát triển của thế giới.

5.1. Kết luận về vai trò và giá trị nhân học xã hội Kitô giáo trong đời sống đạo Việt Nam

Nhân học xã hội Kitô giáo không chỉ là nền tảng lý luận mà còn là kim chỉ nam cho đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam. Giá trị của nó thể hiện qua việc củng cố đức tin, phát triển phẩm giá con người và xây dựng cộng đồng tín đồ vững mạnh. Việc thấm nhuần các nguyên tắc nhân học Kitô giáo giúp người Công giáo sống “tốt đời đẹp đạo”, góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh và nhân bản.

5.2. Triển vọng phát triển nhân học xã hội Kitô giáo trong bối cảnh hội nhập và đa văn hóa

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và đa văn hóa, nhân học xã hội Kitô giáo cần được phát triển theo hướng linh hoạt, sáng tạo và đối thoại. Việc mở rộng nghiên cứu liên ngành, tăng cường giáo dục và truyền thông về nhân học Kitô giáo sẽ giúp người Công giáo Việt Nam thích nghi và phát huy giá trị trong môi trường xã hội đa dạng. Đồng thời, phát triển các mô hình sinh hoạt cộng đồng phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng đời sống đạo và xã hội.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Kitô giáo nói chung và nhân học xã hội Kitô giáo nói riêng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có triết học. Với tư cách tôn giáo của “cộng đồng”, Kitô giáo tất nhiên căn cứ trên một quan điểm hoàn toàn xác định và riêng của mình về con người “cộng đồng”, về bản chất “công đồng” và những phẩm chất con người cần có để có được tồn tại Người đích thực trong công đồng. Chính vì vậy, để thấu hiểu nội dung triết học của Kitô giáo nói chung, hạt nhân lý luận của nó – nhân học xã hội (công đồng) và qua đó làm sáng tỏ giá trị và hạn chế của tôn giáo này trong cuộc sống đạo hiện nay của tín đồ Công giáo, không thể không đi sâu nghiên cứu và đánh giá quan điểm nhân học xã hội của Kitô giáo. Để giải quyết nhiệm vụ này trong Luận án của mình, nghiên cứu sinh nhận thấy một việc làm cần thiết và bắt buộc là giới thiệu những kết quả cơ bản đã đạt được của các tác giả đi trước trong việc nghiên cứu đề tài “nhân học xã hội Kitô giáo” và ý nghĩa của nó để qua đó làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu về đề tài Luận án.

Từ đó tác giả nêu bật những thành tựu sẽ được tiếp thu trong công trình của mình và chỉ ra những vấn đề liên quan đến đề tài còn bỏ ngỏ và tác giả sẽ giải quyết trong Luận án của mình. Chương tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài luận án sẽ bao gồm những nội dung cụ thể sau đây. Tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo 1. Tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo Kitô giáo nói chung, với tính cách là một trong ba tôn giáo thế giới, và tư tưởng nhân học xã hội của nó là một trong những lĩnh vực đối tượng nghiên cứu được quan tâm từ rất lâu và cũng có rất nhiều tài liệu nghiên cứu được dành cho nó.

Song có một nghịch lý là các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa cho sự ra đời của nó dường như lại chưa được các học giả quan tâm thỏa đáng. Có thể khẳng định rằng, chỉ một vài tác phẩm đề cập đến vấn đề này. Đó trước hết là tác 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm “Các phạm trù văn hoá trung cổ” (NXB Văn hóa Thông tin, 1987) của nhà nghiên cứu A.Gurevich người Nga, trong đó ông đã đề cập tới điều kiện văn hóa cho sự ra đời của văn hóa trung cổ nói chung và chủ yếu là văn hóa Kitô giáo nói riêng như hạt nhân của nó. Công trình này còn có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận vì nó cung cấp cho chúng ta cách tiếp cận rất thỏa đáng và thích hợp với văn hóa Kitô giáo mà, cốt lõi, hạt nhân tư tưởng chính là tư tưởng nhân học xã hội của nó.

Phân tích văn hoá trung cổ, A.Gurevich làm sáng tỏ thế giới tinh thần và diện mạo văn hoá của con người và xã hội trung cổ, tức là làm sáng tỏ những tư tưởng nhân học xã hội của Phúc âm bộc lộ ra trong nếp sống của tín đồ Kitô giáo phương Tây trung cổ. Tiếp theo có thể kể tới cuốn “Tôn giáo học nhập môn” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2006), Đỗ Minh Hợp (chủ biên). Trong đó các tác giả cho rằng, nhân học xã hội Kitô giáo là quan điểm về các phẩm chất của con người thể hiện trên các mặt sinh hoạt chính trị - xã hội, kinh tế và đạo đức được luận chứng về mặt triết học và thần học nhờ viện dẫn vào Kinh thánh. Nhân học này biểu hiện khủng hoảng của những giá trị văn hóa nhân sinh Hy La cổ đại: thói ích kỷ, thái độ thờ ơ đối với đau khổ của tha nhân, và cho rằng các giá trị tinh thần của Kitô giáo với cốt lõi là “tình yêu tha nhân” chính là lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng ấy.

Nói cách khác, những giá trị duy lý và duy mỹ của văn hóa Hy Lạp cổ đại là chưa đủ, cần bổ sung giá trị duy thiện như ba “đế”, “rường cột” cho một cuộc sống cộng đồng tốt đẹp (bộ ba “Apollo – Dionysos – Kitô” của tòa nhà văn hóa phương Tây). Như vậy, có thể khẳng định rằng, tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo còn rất ít, các tài liệu hiện có mới chỉ khái quát được sinh hoạt văn hóa tinh thần ở thời đại Hy Lạp hậu kỳ đang suy thoái, “thú tính” đang vượt trội “nhân tính” và lộng hành. Sự tồn tại và phát triển của văn minh cổ đại bị đe dọa, đòi hỏi tạo dựng một hệ thống giá trị văn hóa tinh thần mới. Nhân học xã hội Kitô giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần này.

Tài liệu nghiên cứu về các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo Có thể nói, Lý Minh Tuấn là tác giả đã có các công trình nghiên cứu rất sâu sắc về Kinh thánh nói chung và tư tưởng nhân học của nó nói riêng. Ông trình bày 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các kết quả nghiên cứu của mình trong hai cuốn sách với nhan đề là “Công giáo và Đức Kitô: Kinh thánh qua cái nhìn từ Đông phương” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2003) và “Đức Giêsu cái nhìn từ Cựu ước” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2013). Trong hai cuốn sách này, Lý Minh Tuấn phân tích quá trình ra đời, hình thành và phát triển của tư tưởng nhân học xã hội Kitô giáo như sự phản ánh quá trình hình thành những giá trị tinh thần - đạo đức chung của nhân loại diễn ra ở tất cả các nền văn hóa phương Đông và phương Tây và được phản ánh trong những tác phẩm văn hóa và đặc biệt tư tưởng triết học tương ứng. Một điểm cần lưu ý là vấn đề “nhân học xã hội” đã được ông xem xét từ góc độ quan hệ giữa “Ngã” với “tha nhân”, tức là từ góc độ quan hệ liên cá nhân, dưới chiều cạnh đạo đức, văn hóa nhân văn.

Hơn nữa, quá trình lịch sử toàn cầu được lý giải chính từ góc độ tiến hóa, gia tăng nhân tính của quan hệ nói trên. Đây là cái nhìn sâu xa và lạc quan về tương lai của loài người từ góc độ tiến hóa đạo đức, trong đó văn hóa tâm linh giữ một vị trí đáng kể. Từ góc độ đó, ông đã dẫn dắt độc giả đi theo sợi dây đỏ tư tưởng nhân học từ Cựu ước đến Tân ước. Tài liệu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc tìm hiểu tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo được trình bày trong Phúc Âm.

Một tài liệu khác chỉ ra triết học Hy Lạp cổ đại là tiền đề quan trọng của tư tưởng nhân học xã hội Kitô giáo – đó là cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (NXB Đại học Tổng hợp Hồ Chí Minh, TP HCM, 2006) của nhóm tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn. Trước hết các tác giả khẳng định rằng, “Kitô giáo đánh dấu một bước ngoặt triệt để trong tư duy triết học… việc phổ biến Kitô giáo đồng thời cũng có nghĩa là sự xuất hiện một triết học mới” (tr. Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích bốn phương diện nội dung nhân học triết học Hy Lạp cổ đại đã được kế tục cách có phê phán và vượt bỏ trong Kinh Thánh để hình thành tư tưởng nhân học Kitô giáo. Đó là: 1) chủ nghĩa nhân cách, vì thời cổ đại chưa biết tới một thần linh duy nhất và có nhân cách theo đúng nghĩa của từ này; 2) tư tưởng sáng thế nhằm nhấn mạnh quyền tự do lựa chọn của cá nhân và khắc phục tính “duy lý” của triết học cổ đại; 3) chủ nghĩa con là người trung tâm nhằm biểu thị bản chất siêu nhiên (các quy tắc đạo đức) của con người; 4) tư tưởng về niềm tin, hy vọng và tình yêu như một bình diện, một chiều cạnh mới của con người - bình diện tinh thần (tr.

7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, sau khi tổng quan tài liệu có liên quan tới các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của nhân học xã hội Kitô giáo, chúng tôi nhận thấy rằng, vấn đề này còn ít được giới nghiên cứu đề cập tới. Dường như chỉ có một số tác giả đi sâu phân tích tiền đề tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại đã có ảnh hưởng trên nhân học xã hội Kitô giáo. Duy nhất Lý Minh Tuấn phác họa liên hệ mang tính phát sinh về mặt tư tưởng giữa tư tưởng nhân học xã hội của Cựu ước với tư tưởng nhân học xã hội trong Tân ước. Rõ ràng là nhân học xã hội Kitô giáo cần được tiếp tục khảo cứu chính từ góc độ tiến trình phát triển lịch sử của tư tưởng nhân học xã hội phương Tây cổ đại.

Tài liệu nghiên cứu về các nội dung cơ bản của nhân học xã hội Kitô giáo 1. Tài liệu thần học Kitô giáo Tư tưởng nhân học xã hội Kitô giáo chủ yếu được trình bày trong Kinh thánh như tài liệu gốc cho mọi suy lý tiếp theo. Chính vì vậy các nhà thần học Kitô giáo đã tập trung chính vào tư liệu gốc này để chú giải tư tưởng nhân học xã hội của nó. Ngay trong lời nói đầu cho “Kinh thánh” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2011), các dịch giả đã khẳng định rằng, con người ta vì tội Tổ tông nên đã quên mất rằng, mỗi người đều có thể trở thành con của Thiên Chúa.

Do vậy Tân ước xác quyết rằng, mọi người là như nhau và nếu biết ăn năn sám hối, biết ăn ở trọn lành, thực hiện lối sống bác ái, yêu thương tha nhân thì sẽ được về bên Thiên Chúa trong ngày phán xét cánh chung. Ngược lại, sẽ bị vứt xuống địa ngục cho khóc lóc và nghiến răng. Nói cách khác, do mối quan hệ giữa người với người bị “lỗi” cho nên con người ta cư xử với nhau cách vị kỷ, chỉ vì cái tôi cá nhân mà đã làm nên nhiều hệ lụy xấu trong quan hệ giữa người với người. Chính lúc đó đã xuất hiện nhà tư tưởng Giêsu với quan điểm yêu thương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ