Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Kitô giáo nói chung và nhân học xã hội Kitô giáo nói riêng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có triết học. Với tư cách tôn giáo của “cộng đồng”, Kitô giáo tất nhiên căn cứ trên một quan điểm hoàn toàn xác định và riêng của mình về con người “cộng đồng”, về bản chất “công đồng” và những phẩm chất con người cần có để có được tồn tại Người đích thực trong công đồng. Chính vì vậy, để thấu hiểu nội dung triết học của Kitô giáo nói chung, hạt nhân lý luận của nó – nhân học xã hội (công đồng) và qua đó làm sáng tỏ giá trị và hạn chế của tôn giáo này trong cuộc sống đạo hiện nay của tín đồ Công giáo, không thể không đi sâu nghiên cứu và đánh giá quan điểm nhân học xã hội của Kitô giáo. Để giải quyết nhiệm vụ này trong Luận án của mình, nghiên cứu sinh nhận thấy một việc làm cần thiết và bắt buộc là giới thiệu những kết quả cơ bản đã đạt được của các tác giả đi trước trong việc nghiên cứu đề tài “nhân học xã hội Kitô giáo” và ý nghĩa của nó để qua đó làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu về đề tài Luận án.
Từ đó tác giả nêu bật những thành tựu sẽ được tiếp thu trong công trình của mình và chỉ ra những vấn đề liên quan đến đề tài còn bỏ ngỏ và tác giả sẽ giải quyết trong Luận án của mình. Chương tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài luận án sẽ bao gồm những nội dung cụ thể sau đây. Tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo 1. Tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo Kitô giáo nói chung, với tính cách là một trong ba tôn giáo thế giới, và tư tưởng nhân học xã hội của nó là một trong những lĩnh vực đối tượng nghiên cứu được quan tâm từ rất lâu và cũng có rất nhiều tài liệu nghiên cứu được dành cho nó.
Song có một nghịch lý là các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa cho sự ra đời của nó dường như lại chưa được các học giả quan tâm thỏa đáng. Có thể khẳng định rằng, chỉ một vài tác phẩm đề cập đến vấn đề này. Đó trước hết là tác 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm “Các phạm trù văn hoá trung cổ” (NXB Văn hóa Thông tin, 1987) của nhà nghiên cứu A.Gurevich người Nga, trong đó ông đã đề cập tới điều kiện văn hóa cho sự ra đời của văn hóa trung cổ nói chung và chủ yếu là văn hóa Kitô giáo nói riêng như hạt nhân của nó. Công trình này còn có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận vì nó cung cấp cho chúng ta cách tiếp cận rất thỏa đáng và thích hợp với văn hóa Kitô giáo mà, cốt lõi, hạt nhân tư tưởng chính là tư tưởng nhân học xã hội của nó.
Phân tích văn hoá trung cổ, A.Gurevich làm sáng tỏ thế giới tinh thần và diện mạo văn hoá của con người và xã hội trung cổ, tức là làm sáng tỏ những tư tưởng nhân học xã hội của Phúc âm bộc lộ ra trong nếp sống của tín đồ Kitô giáo phương Tây trung cổ. Tiếp theo có thể kể tới cuốn “Tôn giáo học nhập môn” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2006), Đỗ Minh Hợp (chủ biên). Trong đó các tác giả cho rằng, nhân học xã hội Kitô giáo là quan điểm về các phẩm chất của con người thể hiện trên các mặt sinh hoạt chính trị - xã hội, kinh tế và đạo đức được luận chứng về mặt triết học và thần học nhờ viện dẫn vào Kinh thánh. Nhân học này biểu hiện khủng hoảng của những giá trị văn hóa nhân sinh Hy La cổ đại: thói ích kỷ, thái độ thờ ơ đối với đau khổ của tha nhân, và cho rằng các giá trị tinh thần của Kitô giáo với cốt lõi là “tình yêu tha nhân” chính là lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng ấy.
Nói cách khác, những giá trị duy lý và duy mỹ của văn hóa Hy Lạp cổ đại là chưa đủ, cần bổ sung giá trị duy thiện như ba “đế”, “rường cột” cho một cuộc sống cộng đồng tốt đẹp (bộ ba “Apollo – Dionysos – Kitô” của tòa nhà văn hóa phương Tây). Như vậy, có thể khẳng định rằng, tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo còn rất ít, các tài liệu hiện có mới chỉ khái quát được sinh hoạt văn hóa tinh thần ở thời đại Hy Lạp hậu kỳ đang suy thoái, “thú tính” đang vượt trội “nhân tính” và lộng hành. Sự tồn tại và phát triển của văn minh cổ đại bị đe dọa, đòi hỏi tạo dựng một hệ thống giá trị văn hóa tinh thần mới. Nhân học xã hội Kitô giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần này.
Tài liệu nghiên cứu về các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo Có thể nói, Lý Minh Tuấn là tác giả đã có các công trình nghiên cứu rất sâu sắc về Kinh thánh nói chung và tư tưởng nhân học của nó nói riêng. Ông trình bày 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các kết quả nghiên cứu của mình trong hai cuốn sách với nhan đề là “Công giáo và Đức Kitô: Kinh thánh qua cái nhìn từ Đông phương” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2003) và “Đức Giêsu cái nhìn từ Cựu ước” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2013). Trong hai cuốn sách này, Lý Minh Tuấn phân tích quá trình ra đời, hình thành và phát triển của tư tưởng nhân học xã hội Kitô giáo như sự phản ánh quá trình hình thành những giá trị tinh thần - đạo đức chung của nhân loại diễn ra ở tất cả các nền văn hóa phương Đông và phương Tây và được phản ánh trong những tác phẩm văn hóa và đặc biệt tư tưởng triết học tương ứng. Một điểm cần lưu ý là vấn đề “nhân học xã hội” đã được ông xem xét từ góc độ quan hệ giữa “Ngã” với “tha nhân”, tức là từ góc độ quan hệ liên cá nhân, dưới chiều cạnh đạo đức, văn hóa nhân văn.
Hơn nữa, quá trình lịch sử toàn cầu được lý giải chính từ góc độ tiến hóa, gia tăng nhân tính của quan hệ nói trên. Đây là cái nhìn sâu xa và lạc quan về tương lai của loài người từ góc độ tiến hóa đạo đức, trong đó văn hóa tâm linh giữ một vị trí đáng kể. Từ góc độ đó, ông đã dẫn dắt độc giả đi theo sợi dây đỏ tư tưởng nhân học từ Cựu ước đến Tân ước. Tài liệu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc tìm hiểu tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhân học xã hội Kitô giáo được trình bày trong Phúc Âm.
Một tài liệu khác chỉ ra triết học Hy Lạp cổ đại là tiền đề quan trọng của tư tưởng nhân học xã hội Kitô giáo – đó là cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (NXB Đại học Tổng hợp Hồ Chí Minh, TP HCM, 2006) của nhóm tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn. Trước hết các tác giả khẳng định rằng, “Kitô giáo đánh dấu một bước ngoặt triệt để trong tư duy triết học… việc phổ biến Kitô giáo đồng thời cũng có nghĩa là sự xuất hiện một triết học mới” (tr. Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích bốn phương diện nội dung nhân học triết học Hy Lạp cổ đại đã được kế tục cách có phê phán và vượt bỏ trong Kinh Thánh để hình thành tư tưởng nhân học Kitô giáo. Đó là: 1) chủ nghĩa nhân cách, vì thời cổ đại chưa biết tới một thần linh duy nhất và có nhân cách theo đúng nghĩa của từ này; 2) tư tưởng sáng thế nhằm nhấn mạnh quyền tự do lựa chọn của cá nhân và khắc phục tính “duy lý” của triết học cổ đại; 3) chủ nghĩa con là người trung tâm nhằm biểu thị bản chất siêu nhiên (các quy tắc đạo đức) của con người; 4) tư tưởng về niềm tin, hy vọng và tình yêu như một bình diện, một chiều cạnh mới của con người - bình diện tinh thần (tr.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, sau khi tổng quan tài liệu có liên quan tới các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của nhân học xã hội Kitô giáo, chúng tôi nhận thấy rằng, vấn đề này còn ít được giới nghiên cứu đề cập tới. Dường như chỉ có một số tác giả đi sâu phân tích tiền đề tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại đã có ảnh hưởng trên nhân học xã hội Kitô giáo. Duy nhất Lý Minh Tuấn phác họa liên hệ mang tính phát sinh về mặt tư tưởng giữa tư tưởng nhân học xã hội của Cựu ước với tư tưởng nhân học xã hội trong Tân ước. Rõ ràng là nhân học xã hội Kitô giáo cần được tiếp tục khảo cứu chính từ góc độ tiến trình phát triển lịch sử của tư tưởng nhân học xã hội phương Tây cổ đại.
Tài liệu nghiên cứu về các nội dung cơ bản của nhân học xã hội Kitô giáo 1. Tài liệu thần học Kitô giáo Tư tưởng nhân học xã hội Kitô giáo chủ yếu được trình bày trong Kinh thánh như tài liệu gốc cho mọi suy lý tiếp theo. Chính vì vậy các nhà thần học Kitô giáo đã tập trung chính vào tư liệu gốc này để chú giải tư tưởng nhân học xã hội của nó. Ngay trong lời nói đầu cho “Kinh thánh” (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2011), các dịch giả đã khẳng định rằng, con người ta vì tội Tổ tông nên đã quên mất rằng, mỗi người đều có thể trở thành con của Thiên Chúa.
Do vậy Tân ước xác quyết rằng, mọi người là như nhau và nếu biết ăn năn sám hối, biết ăn ở trọn lành, thực hiện lối sống bác ái, yêu thương tha nhân thì sẽ được về bên Thiên Chúa trong ngày phán xét cánh chung. Ngược lại, sẽ bị vứt xuống địa ngục cho khóc lóc và nghiến răng. Nói cách khác, do mối quan hệ giữa người với người bị “lỗi” cho nên con người ta cư xử với nhau cách vị kỷ, chỉ vì cái tôi cá nhân mà đã làm nên nhiều hệ lụy xấu trong quan hệ giữa người với người. Chính lúc đó đã xuất hiện nhà tư tưởng Giêsu với quan điểm yêu thương.