Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn 1. Cơ sở của sử dụng gốc ghép trong nhân giống cây ăn quả Ghép là sự kết hợp của cơ quan dinh dưỡng của cùng một cây hay là các phần khác nhau của thân, cành của các cây cùng họ, có quan hệ họ hàng gần gũi tạo thành một tổ hợp mới là cây ghép. Khi ghép mô của thân cây hay cây cùng loài gần nhau có thể tiếp hợp với nhau nhờ sự hoạt động của tượng tầng.
Sau này ở cây ghép mới, phần trên mặt đất phát triển từ cành ghép, còn bộ rễ từ gốc ghép. Cây con có thể gồm ba phần: Cành ghép, đoạn nói và gốc ghép (Vũ Công Hậu, 1990) Khi ghép phải áp sát phần tượng tầng của gốc ghép và cành ghép với nhau, trước tiên những tế bào bị thương tổn của hai mặt cắt hình thành lớp ngăn cách màu nâu, sau đó các tế bào nhu mô dưới lớp ngăn cách ấy phân chia rất nhanh, hình thành mô liên hợp giữa cành ghép và gốc ghép, đồng thời lớp ngăn cách dần dần biến mất, các tế bào mới sinh sản của cành ghép và gốc ghép liên hệ với nhau, do đó chất dinh dưỡng của cành ghép chịu ảnh hưởng của tế bào bên cạnh của gốc ghép mà phân hóa thành mô tương tự (Vũ Công Hậu, 2000; Hoàng Ngọc Thuận, 2001) Những tế bào mới sinh của cành ghép tương ứng với mạch dẫn. cứ như thế sẽ làm cho các loại mô tế bào của cành ghép và gốc ghép có mối liên hệ tương ứng và hình thành của một thể cộng sinh mới, cành ghép và gốc ghép có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối liên hệ dẫn truyền của chúng quyết định. Cành ghép và gốc ghép hình thành lớp tiếp hợp càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự tiếp hợp càng được củng cố, sự trao đổi giữa chất dinh dưỡng vô cơ của gốc ghép và chất dinh dưỡng hữu cơ của cành ghép càng dễ dàng; hay nói cách khác: khi nhân giống bằng phương pháp ghép người ta cũng lấy được một cành của cây mẹ, nối cành ghép vào cây khác gọi là gốc ghép và cắt bỏ hết những cành lá bên trên của download by : skknchat@gmail.com 5 gôc ghép để cho bộ phận rễ của gốc ghép chỉ còn chức năng nuôi sống cành ghép (Phạm Văn Côn, 1997; Vũ Công Hậu, 1990) Sở dĩ cành ghép có thể nối và sống được trên gốc ghép là vì cả cành và gốc ghép đều có mô phân sinh đó là những tế bào non, khi bóc vỏ một phần dính vào với vỏ một phần còn lại phủ trên trục gỗ trắng dưới vỏ.
Khi ghép bằng cành hoặc ghép bằng mắt một phần của mô phân sinh của cành ghép tiếp xúc với một phần của mô phân sinh của gốc ghép và tạo nên một loại mô mới gọi là mô tiếp hợp nhờ đó mà việc trao đổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép diễn ra liên tục và tạo nên một cây ghép hoàn chỉnh (Vũ Công Hậu, 1990; Hoàng Ngọc Thuận và Trần Thế Tục, 1993). Gốc ghép cho cây có múi có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng sản phẩm cây ăn quả, đặc biệt là khả năng chống chịu với các yếu tố bất lợi của môi trường, cũng như sự gây hại của sâu, bệnh. Do vậy việc sử dụng gốc ghép hợp lý sẽ có tác động tích cực đến chất lượng và tuổi thọ vườn cây. Trong lịch sử nghề làm vườn, hàng loạt giống đã được trồng bằng phương pháp ghép: vải, nhãn, mơ, cam.
ở nước ta từ những năm 60 của thế kỷ trước ở các Nông trường Quốc doanh (Vũ Mạnh Hải, 1995; Vũ Công Hậu, 2000). Nghề trồng cam ở Braxin và một số nước Nam Mỹ một thời điêu đứng về sự tàn phá có tính hủy diệt của bệnh Tristera, nhờ công trình nghiên cứu về gốc ghép chống bệnh và chọn được các tổ hợp ghép, gốc ghép sạch bệnh virus đã phục hồi lại nghề trồng cam ở Braxin. Cơ sở khoa học của phương pháp ghép Ghép là phương pháp nhân giống theo đó người ta lấy từ một hoặc nhiều cây mẹ, giống tốt, đang sinh trưởng, những phần như đoạn cành, khúc rễ, mầm ngủ… rồi nhanh chóng và khéo léo lắp đặt vào vị trí thích hợp trên cây khác gọi là cây gốc ghép; sau đó chăm sóc để phần ghép và gốc ghép liền lại nhau, tạo ra một cây mới. Trong đó, cây gốc ghép thông qua bộ rễ có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có chức năng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm.
Có các phương pháp ghép cơ bản download by : skknchat@gmail.com 6 như sau: Ghép cành, ghép mắt, ghép đỉnh sinh trưởng, ghép rễ… (Đào Thanh Vân và Nguyễn Văn Vượng, 2015) Sự phát triển của khoa học hóa nông nghiệp, công nghệ chất dẻo, sự phát triển công nghệ sinh học, sinh lý thực vật và di truyền học thực vật đã ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kĩ thuật ghép cây. Hiện nay có thể ghép cây trong ống nghiệm (vi ghép) để tạo nên cây sạch bệnh. Kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng (Microshoot tip grafting) được Murashige áp dụng lần đầu tiên vào năm 1972 sau đó được cải tiến hoàn chỉnh hơn bởi Navarro 1975, 1976, 1980, 1981 và Hong Ji Su 1984. Kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị gốc ghép, chuẩn bị đỉnh sinh trưởng, vi ghép nuôi cây trong ống nghiệm và sau đó đem trồng ra vườn ươm, trong nhà lưới (green house).
Khi ghép, bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và mắt ghép liền với nhau. Sau đó các mô mềm ở chỗ tiếp xúc giữa phần ghép và gốc ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn (bó libe và bó mạch gỗ) do đó nhựa nguyên và nhựa luyện lưu thông, cây ghép phát triển bình thường (Nguyễn Văn Luật, 2006). Để ghép thành công, các cây gốc ghép và phân ghép phải có quan hệ họ hàng gần gũi và trong khi ghép bắt buộc tượng tầng của gốc ghép và phần ghép phải tiếp xúc với nhau, nghĩa là các tế bào tượng tầng phải xen kẽ vào nhau. Như vậy, cấu tạo của các lớp tế bào phải tương đồng, sự hoạt động phải đồng pha với nhau.
Ngoài kĩ thuật ghép, điều kiện môi trường, sức sinh trưởng và hình thái của cây cũng là những yếu tố quyết định đến khả năng ghép sống (Dẫn theo Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình, 2003). Giữa gốc ghép và cành ghép có sức hợp sinh học do có quan hệ ảnh hưởng qua lại với nhau và do đó cũng có hiện tượng bất hòa hợp giữa gốc ghép và phần ghép. Sức hợp sinh học có thể xảy ra không chỉ trong cùng loài, hay trong cùng một giống mà cũng có thể đạt được khi ghép các cây khác nhau cả về bộ và họ thực vật. download by : skknchat@gmail.com 7 Phần ghép và gốc ghép có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối quan hệ dẫn truyền của chúng quyết định.
Cây ghép sinh trưởng tốt là nhờ gốc ghép cung cấp nước, muối khoáng và dinh dưỡng vi lượng khác cho các quá trình trao đổi chất trong cây. Phần ghép được duy trì trên mặt đất tạo nên khung tán và bộ lá đóng vai trò chủ yếu trong quá trình quang hợp tạo nên dòng nhựa luyện nuôi cây. Lợi dụng tính cộng sinh này, để tạo nên một cây ghép khỏe thì việc chọn lựa tổ hợp gốc ghép - phần ghép là hết sức quan trọng. Việc chọn được tổ hợp ghép tốt sẽ cho những tác dụng cộng hưởng, việc chọn được tổ hợp ghép không phù hợp sẽ có tác dụng ngược lại (Hoàng Ngọc Thuận, 2001; Trần Thế Tục, 1998).
Có nhiều cây dùng làm gốc ghép cho cây có múi. Ở miền Nam dùng cam mật, chanh Volca. ở miền Bắc dùng bưởi, chấp, quýt và một số gốc ghép mới. Quan hệ qua lại giữa gốc ghép và phần ghép là sâu sắc và toàn diện trong mọi quá trình sinh lý của cây nhưng không thay đổi tính di truyền của nhau.
Về mặt di truyền, phần ghép sao chép đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ cần nhân giống. Mặc dù sự tác động qua lại giữa gốc ghép và phần ghép sẽ làm cho phần ghép chịu ảnh hưởng ít nhiều của gốc ghép như: tuổi thọ, quá trình phân hóa hoa sớm hay muộn, sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chịu hạn, chịu úng, chịu mặn, năng suất và phẩm chất, không di truyền lại cho thế hệ sau…. Gốc ghép càng khỏe, càng thích ứng với điều kiện sinh thái địa phương và tiếp hợp tốt với cành hoặc mắt ghép sẽ cho cá thể ghép có tuổi thọ và sản lượng cao. Đôi khi ta gặp trường hợp sau ghép, nhất là ở vùng lạnh với kiểu ghép mắt, cây ghép thay đổi nhiều về hình thái bên ngoài như lá, hình dạng và chất lượng quả.
Hiện tượng này được giải thích do quá trình đột biến tự nhiên của mắt ghép dưới tác động của các yếu tố bên ngoài, hoàn toàn không phải do tác động tương hỗ giữa gốc ghép và phần ghép tạo nên (Trần Thế Tục, 1998). Hiện nay, trong nhân giống cây có múi thì phương pháp ghép chẻ bên được áp dụng nhiều vì với kiểu ghép này tượng tầng của cành ghép và tượng download by : skknchat@gmail.com 8 tầng của gốc ghép được tiếp xúc với diện tích lớn nhất, tạo điều kiện cho việc phân chia tế bào và tiếp hợp mạnh mẽ giữa các bộ phận ghép, dẫn đến tỷ lệ ghép sống, tỷ lệ đạt tiêu chuẩn xuất vườn cao. Cơ sở của sử dụng giá thể trong trồng trọt Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó.
Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi. Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh (Hoàng Ngọc Thuận, 2001). Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng. Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại.
Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc.