Luận văn thạc sĩ: Nhận diện loại hình truyền thông mới trên điện thoại di động ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ ussh khám phá loại hình truyền thông mới trên điện thoại di động tại Việt Nam, phân tích xu hướng và tác động đến xã hội.

Chuyên ngành

Báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ RA ĐỜI LOẠI HÌNH TRUYỀN THÔNG TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG

1.1. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới

1.1.1. Các phương tiện truyền thông mới

1.1.2. Internet

1.2. Tác động của các phương tiện truyền thông mới tới công chúng

1.3. Truy cập Internet từ điện thoại di động

1.4. Các đặc điểm của loại hình truyền thông trên điện thoại di động

1.5. Sự phát triển của các loại hình báo chí

1.6. Loại hình truyền thông trên điện thoại di động

1.7. Các đặc trưng của loại hình truyền thông trên điện thoại di động

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG

2.1. Truyền thông trên điện thoại di động trên thế giới

2.2. Sự phát triển của hoạt động truyền thông trên ĐTDĐ

2.3. Khảo sát một số tờ báo có dịch vụ trên ĐTDĐ

2.3.1. New York Times

2.3.2. Ứng dụng đọc báo trên điện thoại di động ở Việt Nam

2.4. Các hình thức đọc báo thông qua ĐTDĐ

2.5. Sự xuất hiện phần mềm đọc báo trên ĐTDĐ

2.6. Phiên bản trên điện thoại di động của một số tờ báo

2.6.1. Bao moi Mobi

2.6.2. Dân trí Mobile

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA LOẠI HÌNH TRUYỀN THÔNG TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

3.1. Xu hướng phát triển của hoạt động truyền thông trên ĐTDĐ

3.2. Xu hướng về loại hình

3.3. Xu hướng kinh doanh dựa vào loại hình truyền thông qua ĐTDĐ

3.3.1. Kinh doanh nhờ quảng cáo

3.3.2. Kinh doanh nhờ thu phí đọc báo

3.4. Xu hướng tác nghiệp của nhà báo

3.4.1. Xu hướng sản xuất thông tin nhờ ĐTDĐ của nhà báo công dân

3.4.2. Xu hướng tác nghiệp bằng ĐTDĐ của nhà báo chuyên nghiệp

3.5. Nâng cao hiệu quả của loại hình truyền thông trên ĐTDĐ ở Việt Nam

3.5.1. Đề xuất với đơn vị báo chí sử dụng loại hình truyền thông qua ĐTDĐ

3.5.2. Đề xuất với cơ quan quản lý báo chí

3.5.3. Đề xuất với các cơ sở đào tạo báo chí

3.6. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về loại hình truyền thông mới trên điện thoại di động

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, truyền thông di động đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của người dân Việt Nam. Sự phát triển của công nghệ truyền thông mới đã tạo ra những thay đổi lớn trong cách thức tiếp cận thông tin. Điện thoại di động không chỉ là công cụ liên lạc mà còn là phương tiện truyền thông chính, giúp người dùng dễ dàng tiếp cận thông tin mọi lúc mọi nơi. Theo thống kê, số lượng người sử dụng điện thoại di động tại Việt Nam đã tăng mạnh trong những năm qua, cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của thói quen sử dụng điện thoại trong việc tiếp nhận thông tin.

1.1. Đặc điểm nổi bật của truyền thông di động

Truyền thông di động có những đặc điểm nổi bật như tính tương tác cao, khả năng tiếp cận nhanh chóng và tiện lợi. Người dùng có thể nhận thông tin qua nhiều hình thức khác nhau như tin nhắn, ứng dụng di động, và mạng xã hội. Điều này đã tạo ra một môi trường thông tin phong phú và đa dạng.

1.2. Vai trò của điện thoại di động trong truyền thông

Điện thoại di động đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc phát tán thông tin. Các cơ quan báo chí đã nhanh chóng thích nghi với xu hướng này bằng cách phát triển các ứng dụng đọc báo trên di động, giúp người dùng dễ dàng tiếp cận thông tin mới nhất.

II. Thách thức trong việc nhận diện truyền thông di động tại Việt Nam

Mặc dù truyền thông di động đang phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự phân mảnh thông tin và độ tin cậy của nguồn tin. Người dùng thường gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa thông tin chính thống và thông tin sai lệch. Điều này đòi hỏi các cơ quan báo chí và nhà quản lý cần có những biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng thông tin.

2.1. Vấn đề về độ tin cậy của thông tin

Sự phát triển của mạng xã hội trên di động đã dẫn đến việc thông tin được lan truyền nhanh chóng, nhưng không phải lúc nào cũng chính xác. Người dùng cần được trang bị kiến thức để nhận diện thông tin đáng tin cậy.

2.2. Sự phân mảnh thông tin trong truyền thông

Với hàng triệu nguồn thông tin khác nhau, việc tìm kiếm thông tin chính xác trở nên khó khăn hơn. Các cơ quan báo chí cần có chiến lược rõ ràng để cung cấp thông tin chất lượng và đáng tin cậy cho độc giả.

III. Phương pháp phát triển truyền thông di động hiệu quả

Để phát triển truyền thông di động một cách hiệu quả, các cơ quan báo chí cần áp dụng những phương pháp hiện đại và sáng tạo. Việc sử dụng công nghệ mới như AI và phân tích dữ liệu có thể giúp tối ưu hóa nội dung và nâng cao trải nghiệm người dùng. Hơn nữa, việc tương tác với độc giả qua các nền tảng mạng xã hội cũng là một cách hiệu quả để thu hút sự quan tâm.

3.1. Ứng dụng công nghệ mới trong truyền thông

Công nghệ như AI có thể giúp phân tích thói quen đọc của người dùng, từ đó cung cấp nội dung phù hợp hơn. Điều này không chỉ nâng cao trải nghiệm người dùng mà còn tăng cường sự tương tác.

3.2. Tăng cường tương tác với độc giả

Việc sử dụng các nền tảng mạng xã hội để tương tác với độc giả giúp tạo ra một cộng đồng gắn kết. Các cơ quan báo chí có thể tổ chức các cuộc thảo luận trực tuyến để lắng nghe ý kiến và phản hồi từ độc giả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của truyền thông di động tại Việt Nam

Truyền thông di động đã được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam, từ việc cung cấp tin tức đến quảng cáo và tiếp thị. Nhiều tờ báo lớn đã phát triển ứng dụng di động riêng, giúp người dùng dễ dàng tiếp cận thông tin. Sự phát triển này không chỉ mang lại lợi ích cho người dùng mà còn cho các cơ quan báo chí trong việc mở rộng đối tượng độc giả.

4.1. Các tờ báo lớn và ứng dụng di động

Nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên đã phát triển ứng dụng di động, giúp người dùng dễ dàng tiếp cận thông tin mới nhất. Điều này đã tạo ra một xu hướng mới trong việc tiêu thụ thông tin.

4.2. Quảng cáo và tiếp thị qua di động

Quảng cáo trên di động đang trở thành một kênh tiếp thị hiệu quả. Các doanh nghiệp có thể tiếp cận khách hàng mục tiêu một cách nhanh chóng và hiệu quả thông qua các ứng dụng và mạng xã hội.

V. Kết luận và tương lai của truyền thông di động tại Việt Nam

Truyền thông di động đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các cơ quan báo chí và người dùng tại Việt Nam. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có những chiến lược rõ ràng và hiệu quả. Tương lai của truyền thông di động sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với công nghệ mới và nhu cầu của người dùng.

5.1. Dự báo xu hướng phát triển

Dự báo rằng trong tương lai, truyền thông di động sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới. Các cơ quan báo chí cần nhanh chóng thích nghi để không bị tụt lại phía sau.

5.2. Khuyến nghị cho các cơ quan báo chí

Các cơ quan báo chí cần đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân lực để nâng cao chất lượng nội dung. Việc xây dựng một chiến lược truyền thông rõ ràng sẽ giúp họ phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh bước đầu nhận diện loại hình truyền thông mới trên điện thoại di động ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TIỀN ĐỀ RA ĐỜI LOẠI HÌNH TRUYỀN THÔNG TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG 1. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới 1. Các phương tiện truyền thông mới Có thể nói, các phương tiện truyền thông mới như Internet và điện thoại di động đã làm thay đổi thế giới và cách tư duy của con người. Trong một thời gian tương đối ngắn, những phương tiện này đã tạo ra những biến đổi lớn trong đời sống của con người trên trái đất.

Trong phạm vi đề tài này, người viết sử dụng thuật ngữ các phương tiện truyền thông mới để chỉ Internet và điện thoại di động. Internet Internet ra đời thực sự là một cuộc cách mạng vĩ đại. Internet đã mang lại cho loài người một kho kiến thức mà không một thư viện, một bộ bách khoa toàn thư hay một hệ thống thư viện nào khác có thể so sánh được. Internet cũng là môi trường kinh doanh nhanh, rẻ và hiệu quả.

Với khả năng kết nối mở, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, xã hội. Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet. Tại Việt Nam, dịch vụ Internet được Nhà nước cho phép thực hiện từ ngày 5/3/1997. Nhưng phải đến 19/11/1997, "cánh cổng" mở ra với thế giới mới chính thức khai trương, sau 8 tháng chuẩn bị.

Trước đó, việc thử nghiệm Internet đã tiến hành rất sớm ở 4 đơn vị khác nhau: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mạng Varenet: (năm 1994) của Viện Công nghệ thông tin thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia được kết nối với mạng Internet qua cổng mạng AARnet của Đại học Quốc gia Australia. Mạng HCMCNET: (năm 1995) của Trung tâm Khoa học và công nghệ thuộc Sở Khoa học công nghệ và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh kết nối qua nút mạng ở Singapore. Cùng với việc "mở cửa", Ban điều phối quốc gia về Internet Việt Nam cũng được thành lập năm 1997 nhằm giúp Thủ tướng trong việc chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa các cơ quan hữu quan. Ba năm sau đó, cả nước có trên 85.000 người sử dụng (tương đương 1 người dùng /1.000 dân) với khoảng 700.000 máy tính cá nhân (1 máy /100 dân) và cứ 10 PC thì có một máy kết nối Internet.

Tính đến năm 2000, Việt Nam có 1 nhà cung cấp dịch vụ truy cập mạng, 5 nhà cung cấp dịch vụ Internet, 14 nhà cung cấp nội dung thông tin, 9 mạng dịch vụ Internet dùng riêng. Báo điện tử có Nhân Dân (cả phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh), tạp chí Quê Hương, Vietnam News, Thời báo Kinh tế Việt Nam. Năm 2008, số người dùng Internet ở Việt Nam tăng 100 lần sau 8 năm. Nếu như năm 2000 chỉ có khoảng 200.000 người dân Việt Nam truy cập 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạng thông tin toàn cầu, nhưng chưa đầy một thập kỷ sau, con số này đã tăng lên 20,2 triệu, chiếm 23,4% dân số.

Theo thống kê của Trung tâm số liệu quốc tế Internet World Stats năm 2008, Việt Nam đứng thứ 6 ở châu Á về số người kết nối Internet. Việt Nam cũng giữ ngôi vị á quân tại Đông Nam Á, sau Indonesia (25 triệu), còn xét về tốc độ tăng trưởng, Việt Nam chỉ thua Pakistan (133.900 người dùng năm 2000 và 17,5 triệu vào năm 2008).1: 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có số người sử dụng Internet đông nhất châu Á. Báo cáo NetCitizens hàng năm về tình hình sử dụng và tốc độ phát triển của mạng Internet tại Việt Nam của Công ty nghiên cứu thị trường Cimigo công bố ngày 26/4/2011 cho thấy 31% dân số Việt Nam có truy cập Internet 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và mỗi năm có thêm khoảng 2-3 triệu người truy cập Internet. Internet được truy cập rất thường xuyên.

Hầu hết tất cả người sử dụng Internet truy cập Internet hàng ngày hoặc nhiều lần một tuần. Người sử dụng dành hơn hai tiếng một ngày để truy cập Internet. Theo tác giả nghiên cứu, con số này cao hơn so với hầu hết các quốc gia khác trong khu vực. Dường như người Việt Nam rất hào hứng với những cơ hội mới mà Internet mang đến cho cuộc sống của họ.2: Số người sử dụng Internet tại Việt Nam từ 2003 tới 2010.

(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam - www.vn) Cùng với sự tăng trưởng của thành phần trung lưu ở Việt Nam, ngày càng nhiều hộ gia đình sở hữu máy tính để bàn, điều này tạo cho họ điều kiện truy cập Internet ngay tại nhà. Dịch vụ Internet công cộng/cà phê Internet vẫn phổ biến, nhưng chủ yếu được sử dụng bởi nhóm tuổi trẻ và nhóm thành phần kinh tế thấp, hoặc ngược lại họ sẽ không sử dụng Internet. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa trên cuộc nghiên cứu, mục đích chính của việc sử dụng Internet là thu thập thông tin và đọc tin tức. Gần như tất cả cư dân mạng đều truy cập các trang web điện tử như Dân Trí, VnExpress hay 24h.

Tuy nhiên, việc sử dụng Internet cho mục đích giải trí đang trở thành xu hướng. Người Việt Nam đặc biệt thích nghe nhạc và xem phim trực tuyến. Có sự sự tăng trưởng cố định của các hoạt động giải trí này trong vòng một vài năm trở lại đây. Cũng trong giai đoạn đó, số lượng những trang web cung cấp những dịch vụ tương tự cũng tăng lên.

Hàng ngày: 62%; Vài lần một tuần: 23%; 1 lần 1 tuần: 3%; Vài lần 1 tháng: 4%; Không thường xuyên: 8% Bảng 1. Tần suất sử dụng Internet. Nguồn: Cimigo Net Citizens Khoảng 80% người sử dụng Internet nghe nhạc trực tuyến, và 2/3 trong số họ tải nhạc từ Internet. Một nửa số người sử dụng Internet xem phim trực tuyến.

Nhóm 15-24 tuổi tham gia các hoạt động giải trí trực tuyến thường xuyên hơn, trong khi những người lớn tuổi hơn sử dụng Internet chủ yếu để đọc tin tức. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điện thoại di động Sự bùng nổ tương tự cũng xảy ra đối với điện thoại di động. Ý niệm về điện thoại di động bắt đầu từ năm 1947 khi các nhà nghiên cứu thấy điện thoại di động dùng trong xe thô sơ nên thực hiện bằng cách dùng các cell, (cell là đơn vị nhỏ, tầm hoạt động một vùng, do đó nó có tên là cell phone hay mobile phone) với tần số dùng trở lại sẽ có thể làm tăng khả năng lưu thông tin tức của điện thoại di động một cách đáng kể tuy nhiên lúc bấy giờ chưa có công nghệ để làm chuyện này.

Năm 1973, Martin Cooper, giám đốc dự án của hãng Mororola, cho xây dựng một trạm thu phát tại New York, Mỹ đồng thời cho ra nguyên mẫu của điện thoại di động có tên là Motorola Dyna-Tac. Sau những cuộc thử nghiệm ban đầu tại Washington cho FCC, Cooper và Motorola đưa công nghệ điện thoại tới New York để giới thiệu với công chúng. Motorola Dyna-Tac là chiếc điện thoại di động đầu tiên, với thời gian nói chuyện là 35 phút và thời gian sạc pin là 10 giờ, có thể dùng để nghe, nói, quay số. Mặc dù chiếc Dyna-Tac đã thành hình vào năm 1973 nhưng phải mất đến 10 năm sau Cooper mới thương mại hóa được sản phẩm này.

Giá của nó lúc bấy giờ là 3.500 USD, nặng 793,8 g và pin có thể nói chuyện được nửa tiếng. Với sự phát triển nhanh chóng, năm 1987, số người dùng điện thoại di động trên thế giới vượt qua con số 1 triệu. Thế nhưng, theo nghiên cứu được công bố, tính đến hết tháng 3/2011, toàn thế giới có khoảng 4 tỷ người sử dụng điện thoại di động, trong đó có 1,08 tỷ người sử dụng smartphone, còn 3,05 tỷ người sử dụng các loại điện thoại cơ bản (nghe, gọi và nhắn tin). Tại Việt Nam, năm 1994, ngành bưu điện mới bắt đầu hợp tác với Alcatel đưa mạng điện thoại di động đầu tiên hoạt động tại Việt Nam, chỉ 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong vòng 12 năm, đã có tới 12 triệu số thuê bao được sử dụng.

Việt Nam trở thành một trong những thị trường điện thoại di động tăng trưởng nhanh nhất tại thị trường châu Á với tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 50%. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2010, tổng số thuê bao điện thoại của cả nước đã ở mức 170,1 triệu, gồm 154 triệu thuê bao di động. Các mạng di động đóng góp hơn 80% doanh thu trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam năm 2010. Theo kết quả khảo sát chất lượng các mạng di động tại Việt Nam do người sử dụng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bình chọn, được báo Bưu Điện Việt Nam công bố ngày 19/1/2011, hiện nay, đại đa số người dùng di động ở Việt Nam sử dụng công nghệ 2G và chỉ có khoảng 5% số thuê bao sử dụng dịch vụ 3G.

Hiện có 4 trong 7 nhà mạng ở Việt Nam đã khai trương dịch vụ 3G [3G, viết tắt của third-generation là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh.)] là: Vinaphone, Mobifone, Viettel và EVN Telecom, trong đó VinaPhone là nhà tiên phong khi bắt đầu cung cấp dịch vụ từ tháng 10 năm 2009. Khảo sát này cũng cho biết cảm nhận của người dùng về chất lượng dịch vụ 3G tại Việt Nam qua 4 nhà cung cấp Vinaphone, Mobifone, Viettel và EVN Telecom. Về chất lượng dịch vụ 3G, Mobifone dẫn đầu ở các yếu tố liên quan đến chất lượng sóng, tốc độ đường truyền và mức độ an toàn, bảo mật thông tin. Viettel dẫn đầu ở các yếu tố chi phí, giá cả dịch vụ hợp lý và Vinaphone đứng đầu theo cảm nhận của người dùng về khả năng tích cước chính xác.

Về chất lượng dịch vụ của 7 mạng di động, Mobifone được người dùng cả hình thức thuê bao trả trước và sau đánh giá là có chất lượng dịch vụ tốt 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất, tiếp đến là Viettel, Vinaphone. MobiFone cũng là mạng được người dùng lựa chọn nhiều nhất để tư vấn, giới thiệu cho những người khác sử dụng, đứng thứ hai là Viettel. Viettel là mạng di động đứng đầu trong lựa chọn của người dùng một khi họ có nhu cầu sử dụng thêm một số thuê bao khác, tiếp đến là MobiFone, Vinaphone, Vietnammobile, Beeline, Sfone and EVN Telecom. Viettel cũng là mạng di động được lựa chọn nhiều nhất trong trường hợp người sử dụng được giữ nguyên số thuê bao đang dùng và đổi sang nhà cung cấp khác, tiếp theo là MobiFone, Vinaphone, Vietnamobile, Beeline, Sfone and EVN Telecom.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ