CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NGUYÊN TẮC THẨM QUYỀN QUYẾT ĐỊNH THẨM QUYỀN 1. Tổng quan về Trọng tài thương mại Tranh chấp luôn xảy ra trong xã hội của con người, do đó việc giải quyết các tranh chấp ấy trong hòa bình và hướng đến sự đồng thuận cao nhất của các bên liên quan luôn là nhu cầu thiết yếu trong xã hội. Bên cạnh các tranh chấp trong đời sống hằng ngày, các tranh chấp thương mại cũng thường xuyên diễn ra với mức độ phức tạp, quy mô và có hệ quả tác động sâu sắc hơn, nhất là về mặt kinh tế. Các đối tượng tranh chấp là những thương nhân cũng có nhiều những đặc thù thương mại và do đó, có nhu cầu giải quyết tranh chấp với thời gian nhanh chóng, hiệu quả và có tính bí mật cao.
Trước nhu cầu đó thì bên cạnh Tòa án, Tòa Trọng tài được xây dựng nên để giải quyết các tranh chấp trong xã hội, mà trước hết là tranh chấp thương mại. Định nghĩa Trước khi tiến vào sâu hơn thì tốt nhất, chúng ta cần phải xác định được ý nghĩa của các thuật ngữ. Trước hết là với thuật ngữ “Trọng tài”. Trong các hệ thống pháp lý khác nhau, các cách giải thích có sự khác nhau nhất định về mặt câu chữ: Theo Hội luật sư Mỹ (American Bar Association) thì: Trọng tài là một quy trình tư nhân trong đó các bên tranh chấp đồng ý rằng một hoặc nhiều cá nhân (trọng tài viên) có thể đưa ra quyết định về tranh chấp sau khi nhận được chứng cứ và lắng nghe các lập luận”2 1 Gary B.
Born, International Arbitration Law and Practice (tái bản lần thứ 3), NXB Kluwer Law International, Hà Lan, 2012, tr.2 2 Định nghĩa của “Arbitration” tại website chính thức của American Bar Association, xem tại: https://www.org/groups/dispute_resolution/resources/disputeresolutionprocesses/arbitration/#:~:text =Share%3A,a%20decision%20about%20the%20dispute. (truy cập ngày 01/05/2023) 9 Theo luật Pháp, Trọng tài là “… một công cụ mà qua đó, thực hiện việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hai hoặc nhiều bên, theo quyết định của một hay nhiều Trọng tài viên. Những người này được cấp quyền từ một thỏa thuận dân sự, không phải từ các cơ quan của một Nhà nước, và những người này sẽ tiến hành và quyết định vụ việc dựa trên thỏa thuận đó.3 Còn tại Tòa Tối cao Đức (Bundesgerichtshof), Trọng tài được định nghĩa: Một Tòa án mang bản chất tư nhân được xây dựng lên theo tự do thỏa thuận của các bên, chứa đựng một hoặc nhiều Trọng tài viên. Việc phân xử được thực hiện tại Tòa này thay vì Tòa án quốc gia theo thỏa thuận của các bên.4 Tại Việt Nam, theo quy định của khoản 1 Điều 3 Luật số 54/2010/QH12 về Trọng tài thương mại năm 2010: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”.
Theo từ điển Black’s Law : “Trọng tài là quá trình giải quyết tranh chấp theo đó bên thứ ba trung lập (Trọng tài viên) ra phán quyết sau khi tất cả các bên tranh chấp đã trình bày ý kiến, quan điểm của mình về vụ việc. Trong trường hợp Trọng tài tự nguyện, các bên tranh chấp là người chọn lựa Trọng tài viên và Trọng tài viên này là người có quyền ra phán quyết. Phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp”.5 Theo từ điển tiếng Việt thì : “Trọng tài là người được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp.6 3 Emmanuel Gaillard, and John Savage, Fouchard Gaillard, Berthold Goldman, Fouchard Gaillard Goldman on International Commercial Arbitration (xuất bản lần thứ nhất), NXB Kluwer Law International, Vương quốc Anh, 1999, tr.9 4 Ozlem Susler, Jurisdiction of Arbitration Tribunals: A Comparative Study, Luận án Tiến sĩ, Đại học La Trobe, 2012, tr. Garner, Từ điển Luật Black’s law (tái bản lần thứ 9), NXB West, bản quốc tế, 2009, tr.119: định nghĩa của Arbitration 6 Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt (tái bản lần thứ 10), NXB Đà Nẵng, Việt Nam, 2004, tr.1040: định nghĩa của Trọng tài 10 Dù là với định nghĩa như thế nào, có thể thấy “Trọng tài” đều mang ý nghĩa như là một bên, một cơ quan, một công cụ hay diễn đàn giải quyết tranh chấp của hai hay nhiều bên còn lại.
Trọng tài này có tính độc lập cao, không nằm trong hệ thống tư pháp của nhà nước và có khả năng đưa ra phán quyết có tính ràng buộc, bắt các bên phải thi hành một cách hiệu quả. Mở rộng ra, trọng tài quốc tế chính là phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nhưng được áp dụng trong bối cảnh các tranh chấp thương mại xuyên biên giới với đặc trưng là các chủ thể mang quốc tịch khác với quốc gia của trọng tài, vụ tranh chấp có các yếu tố nằm ngoài biên giới quốc gia của trọng tài. Bản chất của Trọng tài thương mại Có thể hiểu rằng, Trọng tài thương mại là một cơ chế giải quyết tranh chấp “tư nhân”, không có gắn liền với Nhà nước như Tòa án. Hiểu đơn giản thì có thể gọi Trọng tài là Tòa án của riêng các bên.
Các bên tham gia tranh chấp tự nguyện tìm đến Trọng tài để yêu cầu họ đứng ra phân giải vụ tranh chấp, và vì chính ý chí họ tự nguyện lựa chọn cơ quan này để giải quyết tranh chấp, họ cũng tự nguyện chịu hệ quả của việc giải quyết tranh chấp đó dưới hình thức một phán quyết Trọng tài.7 Do đó, các bên bị ràng buộc với phán quyết Trọng tài y như cái cách họ ràng buộc bản thân trong các hợp đồng khác. Việc giải quyết tranh chấp này tuy mang tính tư nhân rất cao, nó vẫn bị quản lý bởi các quy định của các quốc gia. Đa phần các quy định này được tạo lập nhằm đảm bảo rằng quá trình xét xử diễn ra công tâm và khách quan nhất có thể, để không bên nào phải chịu một sự công lý bất công. Ngoài ra, cũng là để Nhà nước đảm bảo rằng việc xét xử Trọng tài không được vi phạm các lợi ích công, trật tự xã hội hay các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia khác.8 Tuy nhiên, pháp luật quốc gia cũng cho phép Trọng tài được quyền 7 Aiste Sklenyte, International Arbitration: the Doctrine of Separability and Competence-Competence Principle, Khóa luận tốt nghiệp, trường Aarhus School of Business MSc of EU Business and Law, Vương quốc Anh, 2003, tr.44 8 Jack Graves, Yelena Davydan, “Competence-Competence and Separability-American Style”, chương 8, International Arbitration and International Commercial Law: Synergy, Convergence and Evolution, bài nghiên cứu tại Trung tâm Touro Law Center Legal Studies, 2011, tr.
2 11 tự do trong nhiều khía cạnh, như là việc xét xử một vụ việc sử dụng pháp luật của quốc gia khác, hay có thể tiến hành quá trình giải quyết tranh chấp bằng nhiều ngôn ngữ. Chính sự giải quyết tranh chấp tôn trọng ý chí của các bên như vậy đã tạo nên nhiều sự đặc trưng cho Trọng tài.9 Thường một hệ thống giải quyết Trọng tài sẽ được xây dựng đảm bảo những đặc trưng khác với Tòa án:10 Sự tự nguyện: Các bên chỉ được giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài khi đã thống nhất được việc sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Sự tự nguyện này thể hiện bằng một thỏa thuận Trọng tài hay điều khoản Trọng tài chính là thức tạo nên quyền lực cho các Trọng tài. Không có sự tự nguyện, không một tranh chấp nào có thể được xử lý qua phương thức này.
Sự phân xử không mang tính Nhà nước: Các Trọng tài viên là các công dân của một quốc gia nhưng trong quá trình xử án, họ không mang tư cách, không bị ràng buộc như những đại diện của quốc gia. So với Thẩm phán, tư cách này giúp các Trọng tài có khả năng đưa ra phán quyết không ưu tiên trong việc bảo vệ chính sách công, mà giữ mục tiêu chính là giải quyết tranh chấp giữa hai bên công bằng. Phán quyết là chung thẩm: Đa phần các quốc gia đều công nhận phán quyết của Trọng tài là chung thẩm. Một vụ việc đã được giải quyết bởi Trọng tài sẽ không được giải quyết lại một lần nữa bởi các cơ chế khác.
Tuy nhiên, Tòa án vẫn có thể thực hiện việc xem xét đánh giá Phán quyết của trọng tài để đảm bảo tính phù hợp với luật, từ đó công nhận và cho thi hành. Việc xem xét này thường được thực hiện mà không xét xử lại nội dung. Ngoài ra, tuy luật Mẫu không quy định cụ thể trong một điều khoản nhưng tính bảo mật được các học giả coi là một trong số các nguyên tắc quan trọng, 9 Marc Blessing, “Mandatory Rules of Law versus Party Autonomy in International Arbitration”, Journal of International Arbitration, 1997, số 14, tr. 23 10 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Đặc san Tuyên truyền pháp luật Số: 07/2013 chủ đề trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài thương mại, Hà Nội, 2013, Mục 1.
Các nguyên tắc của Trọng tài Để có thể vận hành một cách hiệu quả, cơ chế Trọng tài thương mại thường được các quốc gia xây dựng trên các nguyên tắc mà Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại đặt ra. Việc tuân theo các nguyên tắc này là điều cần thiết để hoạt động Trọng tài tại mộ quốc gia được tôn trọng bởi các quốc gia khác, làm tăng giá trị quốc tế của Phán quyết và theo đó, thu hút thêm các chủ thể sử dụng Trọng tài để giải quyết tranh chấp.11 12 Nguyên tắc Thẩm quyền quyết định thẩm quyền (competence-competence): Trọng tài có quyền công nhận sự phù hợp của Thỏa thuận trọng tài giữa các bên và theo đó, quyết định thẩm quyền của mình một cách tương ứng. Các quốc gia thường phối hợp với Trọng tài trong việc đảm bảo các vụ việc có thỏa thuận Trọng tài được xem xét xử lý bằng Trọng tài bằng cách từ chối thẩm quyền của Tòa. Nguyên tắc này là nguyên tắc được tập trung phân tích trong bài khóa luận này.13 Nguyên tắc tự do thỏa thuận (party autonomy): Các bên được thỏa thuận phương thức giải quyết với một mức độ cao, khi có thể tự quyết ngôn ngữ, nơi diễn ra quá trình xét xử, số lượng Trọng tài, luật áp dụng, tính bí mật… tới một mức độ mà quốc gia cho là phù hợp.14 Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài (separability): Thỏa thuận trọng tài tồn tại độc lập đối với hợp đồng hoặc giao dịch mà nó được lập nên.
HIệu lực của thỏa thuận trọng tài không làm ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng bởi hiệu lực của hợp đồng hoặc giao dịch mà nó điều chỉnh.15 11 Nguyễn Mạnh Dũng, Nguyễn Thị Thu Trang, “Thực trạng sử dụng trọng tài thương mại tại Việt Nam Một số giải pháp nâng cao sức hấp dẫn của trọng tài”, Dự thảo tham luận Tổng kết thi hành Luật Trọng tài thương mại 31/08/2015, xem tại http://dzungsrt.com/wp-content/uploads/2015/03/20150831-Du-thao-Tham-Luan-tong-ket- thi-hanh-LTTTM-updated-clean.