Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình là hiện tượng xã hội vận động và biến đổi theo sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện pháp điển hóa quan hệ hôn nhân và gia đình, từng bước xác lập chế độ hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, một vợ một chồng và bình đẳng nam nữ. Nguyên tắc này được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Điều 36 Hiến pháp năm 2013, đồng thời được cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014.

Tuy nhiên, thực tế xã hội vẫn tồn tại tình trạng người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, cũng như người độc thân chung sống với người đang có gia đình hợp pháp. Các biểu hiện ngoại tình làm rạn nứt quan hệ gia đình, ảnh hưởng tiêu cực đến con chung và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như cố ý gây thương tích hoặc giết người. Dù đã được quy định trong văn bản pháp luật, việc xử lý các hành vi xâm phạm nguyên tắc một vợ một chồng trong thực tế còn gặp nhiều vướng mắc. Khóa luận "Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" của tác giả Chu Thế Nam (hướng dẫn bởi TS. Nguyễn Phương Lan, Hà Nội, 2023) được thực hiện nhằm phân tích toàn diện cơ sở pháp lý và thực tiễn thi hành nguyên tắc này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận, nội dung quy phạm của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành, góp phần bảo vệ quan hệ hôn nhân gia đình bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Phân tích các vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong pháp luật Việt Nam (khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết, ý nghĩa và khái lược lịch sử hình thành, phát triển).
  2. Phân tích hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nội dung nguyên tắc, các trường hợp ngoại lệ, các dạng hành vi vi phạm và các biện pháp chế tài xử lý (dân sự/hôn nhân gia đình, hành chính, hình sự).
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng nguyên tắc một vợ một chồng, đánh giá các vướng mắc, bất cập và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng; các quy định cụ thể trong Luật HN&GĐ năm 2014 và văn bản pháp luật liên quan; thực tiễn áp dụng quy phạm để xử lý các hành vi vi phạm thông qua các vụ việc cụ thể.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng từ thời điểm Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực cho đến thời điểm thực hiện khóa luận (2023). Đề tài giới hạn không nghiên cứu các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và tiếp cận lý thuyết

Khóa luận sử dụng khung lý thuyết pháp lý dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình tiến bộ. Khái niệm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được tác giả tiếp cận đồng thuận với định nghĩa khoa học pháp lý của Trần Tiến Dũng (2021): là hệ thống tư tưởng mang tính chỉ đạo, quán triệt xuyên suốt trong các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ, quy định người đang có vợ, có chồng không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được khai thác làm cơ sở phân tích bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 36);
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các Điều 2, 3, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 15, 16, 19, 29, 33, 43, 44, 47, 50, 81, 82, 131);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Điều 182);
  • Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành;
  • Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình;
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2014;
  • Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP;
  • Các văn bản lịch sử: Luật HN&GĐ năm 1959, Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 76/CP ngày 25/03/1977 của Hội đồng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp ba phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích: Bóc tách các yếu tố cấu thành quy phạm pháp luật, điều kiện kết hôn, chế định tài sản và các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính, tội phạm hình sự.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm lý luận, hệ thống hóa các trường hợp áp dụng pháp luật và rút ra các nhận định chung.
  • Phương pháp thống kê: Rà soát, đối chiếu các số liệu và vụ việc thực tiễn nhằm làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tác giả (Năm) Tên công trình Đóng góp và khoảng trống nghiên cứu
Bùi Minh Hồng (2001) Những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội) Phân tích nội dung, ý nghĩa nguyên tắc theo Luật năm 2000; chỉ ra vướng mắc thực tiễn nhưng chưa bao quát khung pháp lý 2014.
Trần Thị Thu Huyền (2010) Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng (Khóa luận, ĐH Luật Hà Nội) Đưa ra cơ sở lý thuyết xử lý vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000.
Nguyễn Thị Thu Thủy (2012) Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và việc đảm bảo thực hiện (Khóa luận, ĐH Luật Hà Nội) Làm rõ phương diện lý luận, ý nghĩa và đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc.
Đỗ Thị Bích Ngọc (2013) Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng và thực tiễn thực hiện (Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội) Đánh giá thực trạng áp dụng nhưng chưa phản ánh các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014.
Trần Tiến Dũng (2021) Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội) Đánh giá toàn diện lý luận và thực tiễn, làm tiền đề cho tác giả phát triển nghiên cứu trong bối cảnh xã hội mới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng

Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý, đặc trưng và giá trị xã hội của nguyên tắc:

  • Khái niệm và quá trình phát triển: Theo Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Bản chất của hôn nhân một vợ một chồng là nam chỉ lấy một vợ và nữ chỉ lấy một chồng, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và tình yêu đôi lứa. Về mặt lịch sử nhân loại, quan hệ tính giao chuyển dịch từ trạng thái bầy đàn nguyên thủy sang hôn nhân đối ngẫu và tiến tới "đơn vị hôn" (monogamy).
  • Bốn đặc điểm cơ bản:
    1. Tính hiến định: Được quy định trực tiếp trong Hiến pháp năm 2013 và xuyên suốt hệ thống văn bản pháp luật HN&GĐ.
    2. Tính độc lập: Là nguyên tắc nền tảng điều chỉnh quan hệ HN&GĐ, phủ nhận chế độ đa thê phong kiến.
    3. Mối quan hệ mật thiết với các nguyên tắc khác: Gắn bó hữu cơ với nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ và bình đẳng nam nữ.
    4. Phù hợp với xu thế tiến bộ nhân loại: Đảm bảo tính đạo đức, bình đẳng thực chất giữa hai giới thay vì bảo vệ quyền gia trưởng như trong các chế độ xã hội cũ.
  • Ý nghĩa pháp lý và xã hội: Xóa bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến "trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng"; tạo cơ sở giải phóng phụ nữ; duy trì tính bền vững của gia đình nhằm nuôi dạy trẻ em toàn diện; hạn chế các tệ nạn xã hội (mại dâm, ngoại tình lây nhiễm bệnh qua đường tình dục như HIV, giang mai); cung cấp cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp nhân thân, tài sản và xử lý vi phạm.

Chương 2: Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành

Chương 2 phân tích chi tiết quy phạm điều chỉnh nguyên tắc trong từng chế định pháp lý cụ thể:

  • Thể hiện trong chế định kết hôn:
    • Điều kiện kết hôn (Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014): Phải tuân thủ độ tuổi, tự nguyện, không mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp cấm tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 (cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác).
    • Xác định "người đang có vợ, có chồng": Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, gồm người đã kết hôn hợp pháp chưa chấm dứt hôn nhân; người xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn; người kết hôn trái pháp luật nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân.
    • Thủ tục đăng ký kết hôn và Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (Nghị định 123/2015/NĐ-CP và Thông tư 04/2020/TT-BTP): Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp hoặc đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân; thời hạn giải quyết đăng ký kết hôn là 03 ngày làm việc tại UBND cấp xã và 10 ngày tại UBND cấp huyện (đối với việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật định).
  • Thể hiện trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng:
    • Quan hệ nhân thân: Khoản 1 Điều 19 quy định nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Việc một bên ngoại tình thể hiện sự vi phạm nghĩa vụ nhân thân.
    • Quan hệ tài sản: Điều 29 và Điều 33 quy định tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu gia đình. Pháp luật nghiêm cấm hành vi tiêu tán, sử dụng tài sản chung để chu cấp, tặng cho người thứ ba trong quan hệ ngoại tình (nếu vi phạm phải bồi thường theo Điều 29). Đối với tài sản riêng, nếu hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sinh kế duy nhất của gia đình thì việc định đoạt phải có sự đồng ý của cả hai bên (Khoản 4 Điều 44).
  • Các trường hợp ngoại lệ lịch sử được pháp luật công nhận:
    1. Cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác: Theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của TANDTC, việc kết hôn trong thời gian từ ngày 20/07/1954 đến khi thống nhất đất nước được công nhận do hoàn cảnh chia cắt của chiến tranh; thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc TAND cấp tỉnh.
    2. Hôn nhân đa thê xác lập trước mốc thời gian quy định: Trước ngày 13/01/1960 ở miền Bắc (thời điểm thi hành Luật HN&GĐ năm 1959) và trước ngày 25/03/1977 ở miền Nam (theo Nghị quyết số 76/CP) vẫn được thừa nhận tính hợp pháp.
    3. Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987: Theo Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 và Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, quan hệ được pháp luật công nhận là vợ chồng từ thời điểm bắt đầu chung sống mà không bắt buộc đăng ký kết hôn.
+-----------------------------------------------------------------------------------------------+
|                       CÁC TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ ĐƯỢC CÔNG NHẬN TRONG LỊCH SỬ                    |
+------------------------------------+------------------------------------+---------------------+
| Trường hợp áp dụng                 | Căn cứ pháp lý                     | Điều kiện áp dụng   |
+------------------------------------+------------------------------------+---------------------+
| Cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc     | Thông tư số 60/TATC (1978)         | Xác lập từ sau      |
| lấy vợ/chồng khác                  |                                    | 20/07/1954 đến ngày |
|                                    |                                    | thống nhất đất nước |
+------------------------------------+------------------------------------+---------------------+
| Quan hệ đa thê tại miền Bắc        | Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 | Xác lập trước ngày  |
|                                    |                                    | 13/01/1960          |
+------------------------------------+------------------------------------+---------------------+
| Quan hệ đa thê tại miền Nam        | Nghị quyết số 76/CP (1977)         | Xác lập trước ngày  |
|                                    |                                    | 25/03/1977          |
+------------------------------------+------------------------------------+---------------------+
| Nam nữ chung sống như vợ chồng     | Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10      | Chung sống trước    |
| không đăng ký kết hôn              | TTLT số 01/2001/TTLT               | ngày 03/01/1987     |
+------------------------------------+------------------------------------+---------------------+
  • Các hình thức chế tài xử lý vi phạm:
    • Xử lý theo Luật HN&GĐ năm 2014: Hủy việc kết hôn trái pháp luật (Điều 10 quy định diện chủ thể có quyền yêu cầu rất rộng bao gồm vợ/chồng, cha mẹ, con, Hội Liên hiệp Phụ nữ, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em; Điều 11; Điều 12). Hậu quả pháp lý: Chấm dứt quan hệ như vợ chồng; tài sản giải quyết theo thỏa thuận hoặc Điều 16 (bảo vệ phụ nữ và trẻ em, công việc nội trợ được tính là lao động có thu nhập); con chung giải quyết theo quy định ly hôn (Điều 81, Điều 82). Đối với hành vi chung sống không đăng ký, Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng (Điều 15).
    • Xử lý vi phạm hành chính: Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đang có vợ/chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc chưa có vợ/chồng mà kết hôn/chung sống với người mình biết rõ đang có gia đình hợp pháp; áp dụng biện pháp buộc chấm dứt quan hệ trái luật.
    • Xử lý hình sự: Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:
      • Cấu thành tội phạm: Chủ thể là người đủ tuổi kết hôn (nam từ đủ 20, nữ từ đủ 18) có năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi khách quan kèm theo một trong các điều kiện: làm cho quan hệ hôn nhân của một/hai bên dẫn đến ly hôn; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm; đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc chấm dứt chung sống mà vẫn duy trì.
      • Khung hình phạt: Khung 1 phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm; Khung 2 phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu làm gia đình ly hôn hoặc người liên quan tự sát.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này

Chương 3 tổng kết thực trạng và đề xuất giải pháp:

  • Thực trạng và bất cập:
    • Tình trạng kết hôn trái pháp luật và chung sống như vợ chồng lén lút vẫn diễn ra phổ biến dưới nhiều hình thức lừa dối, giả mạo giấy tờ hộ tịch.
    • Khó khăn trong việc kiểm soát nghĩa vụ chung thủy trên thực tế do đây là lĩnh vực tình cảm cá nhân nhạy cảm, pháp luật chỉ điều chỉnh được hành vi bên ngoài.
    • Vướng mắc trong việc thu thập chứng cứ chứng minh việc "chung sống như vợ chồng" (sinh hoạt chung, tài sản chung, con chung, sự thừa nhận của cộng đồng xung quanh) để làm căn cứ xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự.
    • Quy định pháp luật hiện hành chưa bao quát rõ ràng trường hợp người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng lại chung sống như vợ chồng với người cùng giới tính.
  • Giải pháp hoàn thiện:
    • Hoàn thiện pháp luật: Bổ sung quy định hướng dẫn chi tiết các tiêu chí xác định hành vi chung sống như vợ chồng; mở rộng và quy định cụ thể việc xử lý hành vi quan hệ ngoài luồng giữa người đã kết hôn với người cùng giới tính; tăng mức xử phạt vi phạm hành chính để đảm bảo tính răn đe.
    • Tổ chức thực hiện pháp luật: Tăng cường kiểm tra, rà soát trong khâu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND cấp cơ sở; phát huy vai trò giám sát, tố giác của Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ chức đoàn thể; nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quá trình phát triển của chế định hôn nhân một vợ một chồng trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ năm 1945 đến Luật HN&GĐ năm 2014.
  2. Làm rõ nội dung và cơ chế bảo đảm nguyên tắc trên cả ba bình diện: chế định kết hôn, quyền - nghĩa vụ nhân thân và chế định tài sản của vợ chồng.
  3. Phân tích cụ thể các điều kiện, tiêu chí và thẩm quyền giải quyết đối với các trường hợp ngoại lệ lịch sử theo Thông tư 60/TATC năm 1978, Luật năm 1959, Nghị quyết 76/CP năm 1977 và Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10.
  4. Tổng hợp, so sánh cơ chế xử lý vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng theo 3 cấp độ chế tài: Hủy việc kết hôn trái pháp luật / không công nhận vợ chồng (Luật HN&GĐ 2014), Phạt tiền từ 3.000.000 - 5.000.000 đồng (Nghị định 82/2020/NĐ-CP), và Phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm (Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015).
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                         TỔNG HỢP CÁC CƠ CHẾ XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM                                  |
+-------------------+-----------------------------------+--------------------------------------------+
| Cấp độ xử lý      | Căn cứ quy định                   | Hình thức chế tài cụ thể                   |
+-------------------+-----------------------------------+--------------------------------------------+
| Dân sự / HN&GĐ    | Điều 10, 11, 12, 15, 16           | - Tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật |
|                   | Luật HN&GĐ năm 2014               | - Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng|
|                   |                                   | - Buộc chấm dứt quan hệ sống chung         |
|                   |                                   | - Chia tài sản theo Điều 16                |
+-------------------+-----------------------------------+--------------------------------------------+
| Hành chính        | Khoản 1 Điều 59                   | - Phạt tiền từ 3.000.000đ đến 5.000.000đ   |
|                   | Nghị định số 82/2020/NĐ-CP        | - Buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái luật |
+-------------------+-----------------------------------+--------------------------------------------+
| Hình sự           | Điều 182 Bộ luật Hình sự          | - Khung 1: Cảnh cáo, cải tạo không giam    |
|                   | năm 2015 (sửa đổi 2017)           |   giữ đến 01 năm hoặc tù từ 03 tháng - 01  |
|                   |                                   |   năm (khi có hậu quả nghiêm trọng / đã bị |
|                   |                                   |   xử lý VPHC)                              |
|                   |                                   | - Khung 2: Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm  |
|                   |                                   |   (dẫn đến ly hôn hoặc tự sát)             |
+-------------------+-----------------------------------+--------------------------------------------+

Đề xuất và giải pháp của tác giả

  • Về mặt quy phạm: Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn giải thích rõ hành vi chung sống như vợ chồng với người cùng giới tính của người đang có hôn nhân hợp pháp để có căn cứ xử lý triệt để; hoàn thiện cơ chế xác minh tình trạng hôn nhân liên thông trực tuyến.
  • Về mặt thực thi: Nâng cao trách nhiệm của cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã trong việc thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; tăng cường tuyên truyền pháp luật và xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng việc chung sống không công khai để phá vỡ hạnh phúc gia đình người khác.

Đóng góp mới của khóa luận

So với các công trình nghiên cứu trước đây (chủ yếu dựa trên Luật HN&GĐ năm 2000 hoặc chưa cập nhật các văn bản dưới luật mới), khóa luận đã cập nhật và phân tích hệ thống văn bản hướng dẫn mới như Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Đồng thời, tác giả đưa ra góc nhìn pháp lý về các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn như quan hệ chung sống đồng giới ngoài hôn nhân của người đã kết hôn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các quan hệ hôn nhân và gia đình thuần túy trong nước, không xem xét các trường hợp có yếu tố nước ngoài hoặc đăng ký kết hôn quốc tế. Bên cạnh đó, số liệu thực tiễn chủ yếu được tổng hợp thông qua các vụ án, vụ việc điển hình đã được giải quyết tại các Tòa án địa phương mà chưa có khảo sát xã hội học diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phân tích nguyên tắc một vợ một chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật tư pháp quốc tế.
    • Nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về chứng cứ điện tử, dữ liệu số trong việc phát hiện và chứng minh hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy, ngoại tình trong bối cảnh phát triển của mạng xã hội.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ:

  • Sinh viên và học viên ngành Luật: Đặc biệt trong các học phần Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự và Tội phạm học.
  • Phần đáng tham khảo:
    • Hệ thống hóa các trường hợp ngoại lệ lịch sử trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam (Chương 2, Mục 2.3).
    • Phân tích chi tiết quy trình giải quyết hậu quả pháp lý về nhân thân, tài sản và con chung khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật (Chương 2, Mục 2.4).
    • Phân tích các yếu tố cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Chương 2, Mục 2.5).
  • Cán bộ thực tiễn: Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã/phường trong việc kiểm tra điều kiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư trong giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Những trường hợp ngoại lệ nào trong lịch sử được pháp luật Việt Nam công nhận tồn tại quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng?
Pháp luật Việt Nam công nhận tính hợp pháp của các quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng trong các trường hợp lịch sử cụ thể: cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ/chồng khác trong giai đoạn từ sau ngày 20/07/1954 đến ngày thống nhất đất nước theo Thông tư số 60/TATC năm 1978; quan hệ đa thê xác lập trước ngày 13/01/1960 ở miền Bắc (trước Luật HN&GĐ 1959); quan hệ đa thê xác lập trước ngày 25/03/1977 ở miền Nam (theo Nghị quyết 76/CP); và nam nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn (theo Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10).

2. Hậu quả pháp lý về tài sản khi Tòa án tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng được xử lý như thế nào?
Căn cứ Điều 12 và Điều 16 Luật HN&GĐ năm 2014, quan hệ tài sản giữa các bên kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự và các luật liên quan. Việc giải quyết tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; đồng thời công việc nội trợ và các công việc duy trì đời sống chung khác được coi là lao động có thu nhập để tính toán công sức đóng góp.

3. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng hiện nay là bao nhiêu?
Theo Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền áp dụng đối với hành vi đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác (hoặc chưa có vợ/chồng mà kết hôn/chung sống với người biết rõ đang có gia đình) là từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, kèm biện pháp buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật.

4. Khi nào hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015?
Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng trái luật chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu: làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn/buộc chấm dứt chung sống nhưng vẫn cố tình duy trì.

5. Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người cùng giới tính có bị xem là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng không?
Theo quan điểm phân tích của tác giả trong khóa luận, hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến bản chất tình yêu, nghĩa vụ chung thủy và xâm phạm đến quan hệ nhân thân, tài sản của vợ chồng trong hôn nhân hợp pháp, làm rạn nứt gia đình. Do đó, tác giả nhận định đây là hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và kiến nghị pháp luật cần bổ sung quy định cụ thể để xử lý.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Chu Thế Nam đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận, quá trình lập hiến, lập pháp và nội dung các quy phạm pháp luật hiện hành về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014. Nghiên cứu phân tích chi tiết các biểu hiện của nguyên tắc trong chế định kết hôn, quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, các trường hợp ngoại lệ lịch sử và hệ thống chế tài xử lý vi phạm đa ngành (dân sự, hành chính, hình sự). Các phát hiện và kiến nghị trong công trình cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho việc nghiên cứu, giảng dạy cũng như áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.