mở đầu của phần chính biên hay bản kỷ trong chính sử, có lẽ lý do chủ yếu vì ông ta là vị vua đầu tiên của Việt Nam xƣng đế ở thời độc lập. Gần đây, có ý kiến lại muốn trả vinh dự cho “ra đời một nhà nước có quy mô dân tộc, thống nhất được cả về lãnh thổ hành chính lẫn quyền lực đối với mọi tầng lớp và mọi khu vực dân cư” [70, 439] đầu tiên ở thế kỷ X trên mảnh đất Việt Nam này về với Đinh Bộ Lĩnh, ngƣời đã có công dẹp loạn cát cứ 12 sứ quân, thống nhất đất nƣớc, quá trình mà - 16 - Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả. lịch sử Trung Quốc phải mất hàng ngàn năm mới thực hiện đƣợc dƣới bàn tay của vị hoàng đế đầu tiên Tần Thuỷ Hoàng. Dù Ngô Quyền đã có công “nối lại chính thống” của “nước Đại Việt ta” (lời Lê Văn Hƣu) [11, 148] thì công kiến thiết đất nƣớc của ông lại chƣa đƣợc là bao.
Đó không phải do lỗi của cá nhân mà đơn giản là những bƣớc phát triển của lịch sử có điều kiện cần là sự chín muồi của nhiều yếu tố nội tại. Tình hình xã hội lúc này chƣa ổn định đủ cho việc nghĩ đến chuyện lâu dài. Lời bàn của Ngô Sĩ Liên: “Nhà Tiền Ngô nổi lên được, không những là chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của đế vương. Thế mà ở ngôi chưa được lâu, chưa thấy hiệu quả trị bình, đáng tiếc thay!” [11, 148] có lẽ chỉ nên coi nhƣ lời tán của ngƣời chép sử sau đó đến vài trăm năm, lại luôn ở tâm thế muốn khẳng định rằng nƣớc ta đã có văn hiến từ rất lâu mà thôi.
Dù sao, các vị vua Ngô- Đinh- Tiền Lê cũng đã bƣớc đầu xây dựng thiết chế xã hội theo mô hình Trung Quốc nhƣ một tất yếu. Tất cả đều đã có sẵn, bao gồm cả di sản thời Bắc thuộc để lại cùng một mô hình đã đạt đến độ hoàn chỉnh bên Trung Quốc. Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhƣ vậy thì cũng khó mƣờng tƣợng ra một con đƣờng nào khác thế. Nhƣng vấn đề là các vị vua Ngô- Đinh- Tiền Lê có lẽ cũng mới chỉ áp dụng mô hình thiết chế xã hội của Trung Quốc ở hình thức sơ khai, tối giản và phiến diện nhất mà thôi.
Họ điều hành đất nƣớc phần lớn theo kiểu ngẫu hứng, kinh nghiệm chủ nghĩa, hoàn toàn không dựa vào bất cứ điểm tựa tƣ tƣởng nào. Kiểu hành xử cũng nhƣ cai trị xã hội của họ, dƣới con mắt khắt khe của các sử thần- nhà nho sau này, là mang đầy những khiếm khuyết không thể tha thứ đƣợc, là vi phạm hàng loạt những nguyên tắc của đạo lý, những điển chƣơng chế độ của Nho giáo: “Các đế vương nổi dậy, không bao giờ là không do ở trời. Song bực thánh nhân không cậy là chịu mệnh ở trời mà lại càng làm hết phận sự của mình. Khi việc đã thành rồi, càng lo nghĩ mà phòng bị: sửa việc lễ nhạc hình chính là để phòng giữ lòng người; đặt nhiều lần cửa và đánh hiệu - 17 - Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả.
canh, là để giữ kẻ gian phi. Vì rằng lòng dục không cùng, việc đời không bến, không thể không phòng bị trước, thế là nghĩ xa về sau để mưu cho con cháu chính là ở đó” [11, 158]. Đó chính là lời bàn của Ngô Sĩ Liên về cái chết của Đinh Tiên Hoàng. Rõ ràng là triều đình thời này còn quá hoang sơ, dƣờng nhƣ chỉ mới thoát khỏi bóng dáng của tổ chức công xã thị tộc chƣa đƣợc bao lâu, việc hành thích nhà vua đơn giản và dễ dàng đến mức khó tin.
Điều nhà viết sử này chê trách Đinh Tiên Hoàng nhất chính là chuyện không làm đúng “phận sự”, “sửa lễ nhạc hình chính”. Chƣa nói đến ông vua nổi tiếng bạo ngƣợc nhƣ Kiệt- Trụ là Lê Ngoạ Triều với các trò giết ngƣời man rợ, ngay cả các ông vua sáng nghiệp cũng nuôi hổ dữ, đặt vạc dầu, xử phạt tàn bạo. Bạo lực thật sự vẫn có sức mạnh chƣa thay thế nổi trong thời loạn. Nhƣng cũng phải nói lại rằng đó là giải pháp khó tránh khỏi để đƣa một xã hội còn chƣa thoát khỏi trạng thái hỗn loạn nhƣ thế vào quy củ.
Có thể thấy là các vị vua thời này chƣa phải là mẫu hình các vị đế vƣơng của Nho giáo. Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý, lần lƣợt dời đô về Thăng Long, đặt quốc hiệu là Đại Việt, mở ra một “kỷ nguyên mới” cho đất nƣớc. Đến đây, một hƣớng đi dài lâu cho nƣớc Đại Việt mới thực sự đƣợc mở ra. Công cuộc xây dựng nƣớc Đại Việt đến đây mới có thể coi là thực sự bắt đầu: “Triều Lý đã thiết lập quy mô của Đại Việt về nhiều phương diện: từ chủ quyền lãnh thổ, mô hình chính trị, ngôi vua (kiến cực), định đô, định điển chế hiến chương, các quan hệ đối ngoại với lân bang và đặc biệt là sự lựa chọn hệ tư tưởng chủ đạo” [70, 347].
Lý Công Uẩn lên ngôi nhờ một biến cố cung đình là kết quả của sự chuẩn bị, tính toán rất cao tay. Ngƣời đứng sau tất cả những chuyện đó là một nhà sƣ- Vạn Hạnh thiền sƣ. Có thể nói, thế lực Phật giáo đã có công trong sự ra đời của nhà Lý. Thực tế sau này, nhà Lý rất sùng bái Phật giáo, nhƣng cũng là trong bối cảnh phồn thịnh chung của Phật giáo tại Việt Nam bấy giờ.
Thế nhƣng, thật đáng ngạc nhiên, chính đây cũng lại là mốc quan trọng ghi nhận sự có mặt mang tính tất yếu của Nho giáo. Việc dời đô về Thăng - 18 - Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả. Long không chỉ có ý nghĩa lớn lao về mặt chiến lƣợc mà nó cho thấy Lý Công Uẩn đã không còn nhìn võ công và bạo lực nhƣ những yếu tố quan trọng nhất của kẻ làm vua. Ông đã tiến gần hơn đến hình ảnh của một vị đế vƣơng kiểu Nho giáo.
“Thiên đô chiếu” đã phản ánh khát vọng trở thành một vị đế vƣơng đích thực của Lý Công Uẩn: “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tự tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi” [15, 230]. Ngoài việc Vạn Hạnh có bóng dáng của một nhà nho quyền mƣu thì có nhiều lý do để nghi ngờ rằng nhân vật quan trọng thứ hai trong vụ chính biến này, Đào Cam Mộc, cũng có liên quan đến Nho giáo. Ông ta khuyên Lý Công Uẩn theo kiểu nhà nho: “Ông là người công minh dung thứ, khoan hồng, nhân từ, lòng người phụ thuộc, Hiện nay trăm họ khốn khổ, dân không chịu nổi, ông nhân thế lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, ai có thể ngăn lại được?” [11, 187]. Rõ ràng, trong hoàn cảnh Phật giáo đang thịnh hành nhƣ thế, sự xuất hiện của Nho giáo chứng tỏ đây là một nhu cầu không thể thiếu đối với sự phát triển của đất nƣớc.
Sau này, trong việc cai trị, nhà Lý đã buộc phải sử dụng Nho giáo nhƣ một công cụ hữu ích không thể thiếu. Có thể thấy rằng, từ lực lƣợng cai trị là những võ tƣớng với võ công hiển hách, thanh gƣơm yên ngựa đánh quân xâm lƣợc hay dẹp loạn đến khi là tầng lớp trí thức có sự bảo trợ của Phật giáo và Nho giáo là cả một đoạn đƣờng mà lịch sử đã phải đi qua. Đến đây, có thể nói rằng, đã có “sự thắng thế của một lực lượng văn hoá cao hơn”, “của một cung cách cai trị kiểu phong kiến”[70, 347]. Tình thế “Tam giáo tịnh hành” trong thời Lý- Trần: Hai triều đại Lý- Trần kéo dài tổng cộng gần 400 năm, vẫn đƣợc coi là thời kỳ hoàng kim của nƣớc Đại Việt.
Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ về mọi mặt kinh tế- xã hội của đất nƣớc, cũng là thời kỳ đặc biệt thịnh đạt của Phật - 19 - Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả. giáo ở Việt Nam. Phật giáo đƣợc coi nhƣ là quốc giáo trong tinh thần khoan hoà “tam giáo tịnh hành” của thời đại. Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, thậm chí có ý kiến còn cho rằng Phật giáo đã từ Ấn Độ trực tiếp vào Việt Nam sớm hơn cả thời điểm Phật giáo vào Trung Quốc.
Đến khoảng thế kỷ II, Luy Lâu đã đƣợc coi là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của khắp vùng đất thuộc đế quốc Hán. Bằng con đƣờng du nhập hoà bình, cùng hệ thống giáo lý linh hoạt có khả năng thích ứng với mọi thành phần trong xã hội, “ở Giao Chỉ, Phật giáo đã chinh phục quần chúng bình dị trước”, và đã “không gặp nhiều trở ngại như khi đi vào đất Hán. Đạo Phật thấm vào văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất. Đó cũng là một nguyên do để Phật giáo bám rễ vào đất này sâu bền đến nhƣ thế.
Khi Nho giáo đƣợc đƣa vào Việt Nam sau đó không lâu, Phật giáo đã có một vị thế khá vững chắc trong khi Nho giáo phải đợi rất lâu sau đó mới dần len chân vào đƣợc. Sang đến thời tự chủ, Phật giáo vẫn giữ đƣợc vị thế chủ đạo của mình trong đời sống xã hội. Thân thế gắn liền với nhà chùa (xuất thân, nơi nuôi dƣỡng, học hành), lên ngôi nhờ thế lực của Phật giáo, vị vua sáng nghiệp của nhà Lý đã làm rất nhiều việc cho sự củng cố và mở mang địa vị của Phật giáo trong nƣớc: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, Tôn Miếu chưa dựng, Xã Tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên- đức, lại sửa chữa phủ quán ở các lộ, và cấp độ điệp cho hơn nghìn người ở Kinh sư làm tăng, thế thì tiêu phí của và sức dân về việc thổ mộc biết chừng nào mà kể? (…) Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm còn lo con cháu ngày sau xa xỉ, mà Thái tổ để phép cho con cháu như thế, cho nên đời sau mới xây tường cao ngất trời, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cung điện của vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ huỷ thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, nhân dân quá nửa làm sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa, nguồn gốc há không phải là đấy.