Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đói nghèo là một thách thức xã hội mang tính toàn cầu, là rào cản trực tiếp đối với quá trình phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Tại Việt Nam, xóa đói giảm nghèo được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương này đã được khẳng định nhất quán qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, từ Đại hội VII, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa VII), Đại hội VIII (1986) cho đến Đại hội IX (2001) với yêu cầu triển khai các biện pháp cụ thể, phù hợp với đặc thù từng vùng miền. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa chính sách thành các mô hình thực tiễn tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi vẫn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các nghiên cứu thực địa chuyên sâu.
Thị trấn Nà Phặc là đô thị duy nhất của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, giữ vị trí đầu mối giao thông quan trọng với điểm giao cắt giữa Quốc lộ 3 và Quốc lộ 279, cách thị xã Bắc Kạn 36 km. Mặc dù công tác giảm nghèo tại thị trấn đã đạt được những chuyển biến nhất định trong những năm qua, đời sống của một bộ phận lớn người dân vẫn chưa đảm bảo các điều kiện tối thiểu. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn ở mức cao, tình trạng thiếu tư liệu sản xuất và tái nghèo vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Thơ đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (năm 2015) với đề tài: "Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn" dưới sự hướng dẫn của ThS. Cù Ngọc Bắc.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng dẫn đến đói nghèo, từ đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm giảm đói nghèo tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo và những giải pháp xóa đói giảm nghèo.
- Điều tra, khảo sát thực trạng nghèo đói tại thị trấn Nà Phặc.
- Phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan của đói nghèo tại thị trấn Nà Phặc.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo giúp địa phương từng bước vượt khó, vươn lên làm giàu.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sản xuất kinh doanh của nhóm hộ gia đình; các nguyên nhân gây nghèo cho hộ nông dân; các chính sách xóa đói giảm nghèo được áp dụng tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (khảo sát chuyên sâu tại 3 đơn vị đại diện cho 3 vùng sinh thái là thôn Lũng Lịa, thôn Bản Cầy và Tiểu khu I).
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực tập diễn ra từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015; số liệu thứ cấp phục vụ phân tích phản ánh giai đoạn 3 năm từ 2012 đến 2014; số liệu sơ cấp được thu thập năm 2014 - 2015.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nhận diện thực trạng kinh tế nông hộ, phân tích các yếu tố gây nghèo đói và đề xuất giải pháp giảm nghèo trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp - nông thôn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các định nghĩa quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về đói nghèo:
- Khái niệm đói nghèo: Tác giả tiếp cận định nghĩa của Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, Bangkok, 1993), tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (Copenhagen, Đan Mạch, 1995) với chuẩn 1 USD/người/ngày, và định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB) về nghèo tuyệt đối (nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu đạt 2.100 kcal/người/ngày đối với Đông Nam Á) cùng nghèo tương đối.
- Chuẩn nghèo tại Việt Nam: Tác giả phân tích tiến trình điều chỉnh chuẩn nghèo qua 6 thời kỳ. Trong đó, khung phân định hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn nghiên cứu căn cứ theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 1752/CP-TTg, Thông tư 21 và Thông tư 24 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH):
- Chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2015: Khu vực nông thôn có thu nhập bình quân đầu người $\le 400.000$ đồng/tháng; khu vực thành thị $\le 500.000$ đồng/tháng.
- Chuẩn hộ cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015: Khu vực nông thôn có thu nhập bình quân đầu người từ 401.000 đồng/tháng; khu vực thành thị từ 501.000 đồng/tháng.
- Hệ thống văn bản, chương trình mục tiêu quốc gia: Khóa luận viện dẫn các chủ trương trong Nghị quyết 30A của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững tại các huyện nghèo; Quyết định 134/2004/QĐ-TTg; Chương trình 135; Chương trình 139; Chương trình 327 và dự án hỗ trợ lương thực quốc tế PAM.
- Chỉ số phát triển: Đề tài đề cập đến phương pháp luận của Chỉ số phát triển con người (HDI - gồm tuổi thọ, trình độ giáo dục, thu nhập theo sức mua tương đương) và Chỉ số nghèo khổ con người (HPI - tỷ lệ sống đến 40 tuổi, tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ dân cư thiếu nước sạch, thiếu dịch vụ y tế và trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng).
- Hệ thống chỉ tiêu kinh tế nông hộ sử dụng các công thức lượng hóa:
- Giá trị sản xuất: $GO = \sum (Q_i \times P_i)$ (trong đó $Q_i$ là số lượng sản phẩm thứ $i$, $P_i$ là đơn giá bán).
- Chi phí trung gian: $IC = \sum C_i$ ($C_i$ là chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên thứ $i$).
- Giá trị gia tăng: $VA = GO - IC$.
- Thu nhập hỗn hợp: $MI = VA - (D + T)$ ($D$ là khấu hao tài sản cố định, $T$ là thuế nộp ngân sách).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu:
- Thu thập thông tin thứ cấp: Tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Nà Phặc, Chi cục Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp huyện Ngân Sơn.
- Thu thập thông tin sơ cấp: Kết hợp phương pháp quan sát trực tiếp, phỏng vấn người cung cấp thông tin chính (key persons gồm cán bộ chuyên trách thị trấn, trưởng thôn) và điều tra bằng phiếu câu hỏi bán cấu trúc với quy mô 60 nông hộ.
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Địa bàn thị trấn có 3 tổ dân phố và 22 thôn bản, được chia thành 3 vùng sinh thái (vùng trũng, vùng đồi núi thấp, vùng núi cao). Tác giả chọn 3 đơn vị đại diện để điều tra 60 hộ (mỗi điểm chọn 10 hộ nghèo và 10 hộ cận nghèo):
| Địa bàn khảo sát |
Đặc điểm sinh thái và địa bàn |
Tổng số hộ của thôn/tiểu khu |
Số hộ nghèo của thôn/tiểu khu |
Số hộ cận nghèo của thôn/tiểu khu |
Số mẫu hộ nghèo điều tra ($n$) |
Tỷ lệ chọn mẫu hộ nghèo (%) |
Số mẫu hộ cận nghèo điều tra ($n$) |
Tỷ lệ chọn mẫu hộ cận nghèo (%) |
| Thôn Lũng Lịa |
Vùng núi cao, xa trung tâm, thuần nông |
79 |
69 (87,33%) |
10 (12,67%) |
10 |
14,49% |
10 |
100,00% |
| Thôn Bản Cầy |
Vùng đồi núi thấp, gần trung tâm |
118 |
22 (18,64%) |
13 (11,02%) |
10 |
45,45% |
10 |
76,92% |
| Tiểu khu I |
Vùng trũng, trung tâm thị trấn |
165 |
48 (29,09%) |
15 (9,09%) |
10 |
20,83% |
10 |
66,67% |
| Tổng cộng |
3 vùng đại diện |
362 |
139 |
38 |
30 |
— |
30 |
— |
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Ứng dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) như lập biểu đồ, so sánh ghép đôi, chấm điểm; tổng hợp và phân tích định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel; kết hợp phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh chuỗi thời gian.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của công tác xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển ổn định của quốc gia và tỉnh miền núi Bắc Kạn. Khóa luận xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong đào tạo đại học và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác chỉ đạo sản xuất của địa phương. Bố cục tài liệu gồm 5 phần chính được khái quát tại phần này.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết các luận điểm lý thuyết cơ bản về phân loại đói nghèo, các ngưỡng nghèo quốc tế và hệ thống tiêu chí phân định hộ nghèo của Bộ LĐ-TB&XH qua các thời kỳ. Tác giả phân tích kinh nghiệm giảm nghèo quốc tế:
- Trung Quốc: Thực hiện hiệu quả phương châm "ly nông bất ly hương", mở rộng dạy nghề, phát triển công nghiệp nông thôn nhằm chuyển dịch nền kinh tế thuần nông, đầu tư hạ tầng đồng bộ và cung cấp tín dụng ưu đãi cho vùng nghèo.
- Ấn Độ: Tận dụng thành tựu của "Cách mạng xanh", đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, giúp 15 triệu hộ (khoảng 75 triệu người) thoát nghèo và hình thành 12 - 15% hộ khá, giàu.
- Nhật Bản: Triển khai các chính sách dân chủ hóa sau chiến tranh, sử dụng chính sách thuế thu nhập để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo hộ nông nghiệp nông thôn và duy trì hệ thống phúc lợi - bảo hiểm xã hội chiếm tới 14% thu nhập quốc dân (năm 1989).
Đối với Việt Nam, tác giả tổng hợp số liệu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc từ 12,10% (năm 2009) xuống 11,00% (năm 2010), đạt 15,00% vào cuối năm 2011 theo chuẩn nghèo mới; nguồn vốn ngân sách Trung ương giai đoạn 2009 - 2011 bố trí cho Nghị quyết 30A là 8.535 tỷ đồng (bình quân mỗi huyện nghèo nhận 130 tỷ đồng). Tác giả phân loại nguyên nhân nghèo tại Việt Nam theo báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH thành 3 nhóm: do điều kiện tự nhiên - xã hội, do cơ chế chính sách, và do bản thân hộ nghèo. Đồng thời, văn bản nêu rõ đặc thù nghèo đói tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số: tỷ lệ nghèo năm 2011 tại vùng Tây Bắc là 25,26%, Đông Bắc là 10,32%, Bắc Trung Bộ là 11,12%, Duyên hải Miền Trung là 12,73% và Tây Nguyên là 12,14%; toàn quốc còn 62 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50% và 3.006 xã có tỷ lệ nghèo trên 25%.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết không gian nghiên cứu gồm 25 thôn bản/tổ dân phố tại thị trấn Nà Phặc. Tác giả lập luận cơ sở lựa chọn 3 điểm điều tra đại diện (thôn Lũng Lịa, thôn Bản Cầy và Tiểu khu I), xây dựng cơ cấu chọn mẫu 60 hộ nghèo và cận nghèo, thiết lập quy trình phỏng vấn người cung cấp thông tin chính, điều tra bảng hỏi nông hộ và mô tả tường minh hệ thống chỉ tiêu kinh tế ($GO, IC, VA, MI$).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, thể hiện bức tranh toàn diện về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nông hộ tại thị trấn Nà Phặc qua các hệ thống số liệu:
- Điều kiện tự nhiên và khí hậu: Thị trấn có diện tích 6.280,00 ha, bao bọc bởi địa hình đồi núi dốc, đất đai manh mún; thổ nhưỡng chủ yếu là đất cát pha và đất thịt. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 20,7°C, tháng nóng nhất là tháng 7 (26,1°C), tháng lạnh nhất là tháng 1 (11,9°C), nhiệt độ tối thấp tuyệt đối xuống mức 2°C gây rét đậm, rét hại. Lượng mưa trung bình 1.248,2 mm/năm (tập trung tháng 5 - 8), độ ẩm trung bình 80 - 83%. Nguồn nước phụ thuộc các suối nhánh của hệ thống sông Năng (như suối Nà Chúa) nhưng lưu lượng mùa khô hạn chế.
- Cơ cấu sử dụng đất đai giai đoạn 2012 - 2014: Tổng diện tích không đổi (6.280,00 ha). Đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 4.976,29 ha (chiếm 79,56% năm 2014). Đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp từ 723,39 ha (11,52% năm 2012) xuống 718,24 ha (2013) và còn 707,90 ha (11,27% năm 2014), giảm 15,49 ha do chuyển nhượng, bỏ hoang hoặc chuyển mục đích sử dụng. Đất phi nông nghiệp tăng từ 407,34 ha lên 443,35 ha (trong đó đất chuyên dùng tăng từ 247,29 ha lên 283,35 ha). Đất nuôi trồng thủy sản duy trì ở mức 10,08 - 10,09 ha. Đất chưa sử dụng còn 142,38 ha (gồm 89,96 ha đất bằng, 29,00 ha đất đồi núi và 23,42 ha đất đá không có rừng).
- Dân số và lao động: Toàn thị trấn năm 2014 có 1.613 hộ với 6.517 nhân khẩu (nữ 3.434 người chiếm 52,69%, nam 3.083 người chiếm 47,31%), gồm 7 dân tộc anh em cùng sinh sống (Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Sán Chí, Hoa). Mật độ dân số trung bình 180 người/km², tốc độ tăng tự nhiên 0,65%/năm. Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực nhưng chậm: lao động nông nghiệp giảm từ 2.065 người (52,01% năm 2012) xuống 2.019 người (50,76% năm 2014); lao động phi nông nghiệp tăng từ 1.905 người (47,99%) lên 1.959 người (49,25%). Quy mô bình quân năm 2014 đạt 4,04 nhân khẩu/hộ và 2,47 lao động/hộ.
| Chỉ tiêu kinh tế |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
So sánh 2013/2012 (%) |
So sánh 2014/2013 (%) |
| Tổng GTSX (tỷ đồng) |
26.868,50 |
31.416,00 |
— |
116,92% |
— |
| - Nông - Lâm nghiệp (tỷ đồng) |
22.227,15 (82,50%) |
— |
24.868,50 (75,06%) |
107,72% |
100,21% |
| - CN - TTCN (tỷ đồng) |
2.886,90 (14,75%) |
— |
— |
140,26% |
124,94% |
| - Dịch vụ (tỷ đồng) |
1.376,10 (10,19%) |
— |
— |
135,60% |
125,54% |
| Thu nhập BQ đầu người (triệu đồng/năm) |
— |
— |
11,50 |
— |
— |
- Tình hình sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi:
- Cây lúa: Diện tích gieo trồng giảm từ 284,65 ha (2012) xuống 254,55 ha (2014), nhưng nhờ thâm canh nên năng suất tăng từ 50,4 tạ/ha lên 53,7 tạ/ha, sản lượng đạt 1.367 tấn vào năm 2014.
- Cây ngô: Diện tích mở rộng từ 240,02 ha lên 257,65 ha do tính chịu hạn tốt và giá cả ổn định; năng suất đạt 42,7 tạ/ha; sản lượng tăng từ 1.008 tấn lên 1.100 tấn năm 2014.
- Cây thuốc lá: Diện tích biến động mạnh từ 8,59 ha (2012) tăng lên 12,03 ha (2013) rồi sụt giảm xuống 7,32 ha (2014) do ảnh hưởng từ giá thu mua của thương lái; sản lượng năm 2014 đạt 15,25 tấn.
- Cây sắn và lạc: Diện tích sắn năm 2014 đạt 63,74 ha, sản lượng 1.664 tấn; diện tích lạc năm 2014 đạt 5,68 ha, sản lượng 1.431 tấn (sau khi đạt đỉnh 2.036 tấn năm 2013).
- Chăn nuôi: Đàn trâu suy giảm từ 520 con (năm 2012) xuống 434 con (năm 2014) do xu hướng cơ giới hóa nông nghiệp và rét đậm mùa đông; đàn bò tăng từ 715 con lên 836 con nhờ tiêm phòng tốt; đàn lợn giảm mạnh từ 3.980 con xuống 3.540 con do áp lực dịch bệnh; tổng đàn gia cầm phát triển mạnh từ 27.050 con lên 30.782 con năm 2014; diện tích mặt nước thủy sản duy trì 10,8 ha.
- Hiện trạng cơ sở hạ tầng (năm 2014): Trụ sở UBND xã có diện tích 1.180 m² gồm 2 dãy nhà 2 tầng. Trạm y tế thị trấn khang trang rộng 1.266 m² với 8 cán bộ y tế (3 bác sĩ/y sĩ, 4 dược sĩ, 1 nữ hộ sinh) cùng 20 nhân viên thôn bản, thực hiện khám chữa bệnh cho 3.368 lượt người (đạt 93,6% kế hoạch). Mạng lưới giáo dục gồm: 2 trường mầm non (25 phòng học, 38 giáo viên, 507 cháu); 2 trường tiểu học (32 phòng học, 1 phòng thực hành, 1 phòng máy tính, 55 giáo viên, 445 học sinh); 2 trường THCS (26 phòng học gồm 16 phòng kiên cố 2 tầng và 10 phòng cấp bốn, 2 phòng thực hành, 1 phòng máy tính, 32 giáo viên, 368 học sinh); 1 trường THPT (24 phòng học 3 tầng, 3 phòng thực hành, 3 phòng máy tính, 32 giáo viên, 400 học sinh). Lưới điện quốc gia phủ sóng 98,88% số hộ qua 6 trạm biến áp với công suất 1.500 kVA.
- Nhận diện nguyên nhân đói nghèo:
- Khách quan: Địa hình đồi núi dốc, đất canh tác bình quân đầu người thấp và manh mún; thời tiết cực đoan (nhiệt độ hạ xuống 2°C gây chết rét cây trồng, vật nuôi; khô hạn kéo dài mùa đông); thị trường nông sản thiếu ổn định, giao thông đến các thôn vùng cao còn chia cắt.
- Chủ quan: Trình độ học vấn của chủ hộ nghèo còn hạn chế; thiếu hụt vốn đầu tư sản xuất trầm trọng; thiếu kiến thức áp dụng khoa học kỹ thuật và phòng trừ dịch bệnh; tỷ lệ người phụ thuộc cao (đông con); một bộ phận còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước; phát sinh các tệ nạn xã hội (cờ bạc, rượu chè) tại khu vực trung tâm.
Phần 5: Giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn
Tác giả đề xuất nhóm giải pháp tổng thể và các giải pháp phân tầng theo 4 cấp:
- Đối với Đảng và Nhà nước: Hoàn thiện chính sách hạ điền, bảo vệ đất đai canh tác cho hộ nghèo; tăng cường nguồn vốn tín dụng ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT với thủ tục giải ngân đơn giản; đầu tư xây dựng các công trình công cộng (điện, đường, trường, trạm) và phát triển chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo.
- Đối với cấp tỉnh, huyện: Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp địa hình miền núi; tổ chức các chương trình khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật thâm canh lúa, ngô và phòng dịch đàn gia súc; mở rộng dạy nghề nông thôn và phát triển tiểu thủ công nghiệp (cơ khí gò hàn, xưởng mộc, sửa chữa).
- Đối với chính quyền thị trấn, đoàn thể và tổ chức cộng đồng: Tăng cường tính công khai, minh bạch trong bình xét hộ nghèo; phát huy vai trò của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ trong quản lý vốn vay ủy thác; nhân rộng các tổ, nhóm tương trợ trao đổi kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp; kiên quyết bài trừ tệ nạn xã hội.
- Đối với hộ nông dân nghèo: Chủ động thay đổi tư duy, xóa bỏ tâm lý trông chờ ỷ lại trợ cấp; chủ động tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật; tính toán cân đối chi tiêu hợp lý trong gia đình và bố trí ngày công lao động tham gia chuyển đổi cơ cấu cây trồng (tăng ngô, sắn cao sản) và đi làm việc tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp để tăng thu nhập.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả định lượng và phát hiện chính:
- Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa chi tiết hiện trạng kinh tế của một thị trấn miền núi với tổng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đạt 24.868,50 tỷ đồng (chiếm 75,06% năm 2014); thu nhập bình quân đầu người đạt 11,5 triệu đồng/người/năm.
- Xác định được sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng: diện tích lúa giảm 30,10 ha (từ 284,65 ha năm 2012 xuống 254,55 ha năm 2014), trong khi diện tích ngô tăng 17,63 ha (từ 240,02 ha lên 257,65 ha), năng suất lúa thâm canh đạt 53,7 tạ/ha và ngô đạt 42,7 tạ/ha.
- Đánh giá hiện trạng hạ tầng xã hội với 98,88% hộ dân sử dụng điện lưới, mạng lưới 4 cấp học hoàn chỉnh với 107 phòng học các cấp và 1 trạm y tế khám bệnh cho 3.368 lượt người/năm.
- Lượng hóa cơ cấu mẫu 60 hộ nghèo và cận nghèo tại 3 vùng sinh thái, phản ánh sự khác biệt sâu sắc giữa vùng cao (Lũng Lịa - tỷ lệ nghèo toàn thôn lên tới 87,33%) với vùng đồi núi thấp (Bản Cầy - tỷ lệ nghèo 18,64%) và khu trung tâm (Tiểu khu I - tỷ lệ hộ khá chiếm 48,48%, tỷ lệ nghèo 29,09%).
Về đóng góp thực tiễn và quản lý:
- Tác giả đã phân lập rõ ràng hai nhóm nguyên nhân đói nghèo (khách quan từ thời tiết, thổ nhưỡng, biến động thị trường; chủ quan từ học vấn, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, tâm lý ỷ lại và tỷ lệ phụ thuộc cao).
- Xây dựng hệ thống giải pháp phân định theo 4 cấp chủ thể thực thi (từ Trung ương, tỉnh/huyện, thị trấn đến chính bản thân người nghèo), đảm bảo tính đồng bộ giữa cơ chế chính sách tín dụng, hạ tầng kỹ thuật và giải pháp tự lực nội sinh của nông hộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Quy mô mẫu khảo sát trực tiếp dừng lại ở 60 hộ nghèo và cận nghèo tại 3 trên tổng số 25 thôn bản, tổ dân phố của thị trấn Nà Phặc, do đó mức độ khái quát hóa các chỉ tiêu chi tiết đối với toàn bộ các nhóm hộ khác (như hộ khá, hộ trung bình) còn bị giới hạn.
- Chuỗi số liệu phân tích tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2012 - 2014, chưa phản ánh được các tác động chính sách dài hạn và sự biến động giá cả nông sản trong các năm tiếp theo.
- Tiếp cận phân loại hộ nghèo trong khóa luận hoàn toàn dựa trên tiêu chí đơn chiều về thu nhập theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015, chưa lồng ghép phương pháp đo lường nghèo đa chiều.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô điều tra sang các xã lân cận trong huyện Ngân Sơn và tăng cỡ mẫu nông hộ để nâng cao độ tin cậy thống kê.
- Ứng dụng khung tiếp cận nghèo đa chiều (tiếp cận y tế, giáo dục, điều kiện sống, nguồn nước và thông tin) theo chuẩn nghèo mới nhằm phản ánh toàn diện các khía cạnh thiếu hụt của người dân vùng cao.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu thực chứng hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Kinh tế học: Tham khảo phương pháp thiết kế mẫu phân tầng dựa trên tiểu vùng sinh thái nông thôn miền núi và ứng dụng các chỉ tiêu kinh tế nông hộ ($GO, IC, VA, MI$).
- Cán bộ quản lý kinh tế - xã hội, Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp xã, huyện: Sử dụng làm tài liệu thực tế để đối chiếu thực trạng chuyển dịch đất đai, cơ cấu ngành trồng trọt, chăn nuôi và nhận diện nguyên nhân nghèo cụ thể phục vụ công tác xây dựng kế hoạch giảm nghèo hàng năm tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Các chương trình, dự án phát triển nông thôn: Cung cấp bộ dữ liệu nền tảng về cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, giao thông và hiện trạng phân tầng kinh tế nông hộ tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân bổ mẫu điều tra thực địa 60 hộ gia đình như thế nào?
Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 3 địa bàn đại diện cho 3 vùng sinh thái: thôn Lũng Lịa (vùng núi cao, lấy 10 hộ cận nghèo [đạt 100% số hộ cận nghèo của thôn] và 10 hộ nghèo [14,49%]); thôn Bản Cầy (vùng đồi núi thấp, lấy 10 hộ cận nghèo [76,92%] và 10 hộ nghèo [45,45%]); Tiểu khu I (vùng trũng trung tâm, lấy 10 hộ cận nghèo [66,67%] và 10 hộ nghèo [20,83%]). Tổng số mẫu là 60 hộ gồm 30 hộ nghèo và 30 hộ cận nghèo.
2. Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của thị trấn Nà Phặc biến động ra sao trong giai đoạn 2012 - 2014?
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng suy giảm liên tục qua 3 năm, từ 723,39 ha (chiếm 11,52% diện tích tự nhiên năm 2012) xuống 718,24 ha (năm 2013) và còn 707,90 ha (chiếm 11,27% năm 2014). Tổng mức giảm là 15,49 ha, xuất phát từ việc người dân bán đất, bỏ hoang hoặc chuyển đổi mục đích sang các loại đất phi nông nghiệp.
3. Cơ cấu cây lương thực chính (lúa và ngô) tại địa phương có đặc điểm gì nổi bật?
Trong giai đoạn 2012 - 2014, diện tích gieo trồng lúa giảm 30,10 ha (từ 284,65 ha xuống 254,55 ha), năng suất tăng từ 50,4 lên 53,7 tạ/ha, sản lượng năm 2014 đạt 1.367 tấn. Ngược lại, cây ngô tăng cả diện tích (từ 240,02 ha lên 257,65 ha) và sản lượng (từ 1.008 tấn lên 1.100 tấn), năng suất đạt 42,7 tạ/ha, do ngô phù hợp hơn với điều kiện thiếu nước tưới mùa khô tại các vùng đồi núi.
4. Khóa luận sử dụng các công thức kinh tế nào để lượng hóa kết quả sản xuất của nông hộ?
Tác giả sử dụng 4 chỉ tiêu kinh tế cốt lõi: Giá trị sản xuất ($GO = \sum Q_i \times P_i$), Chi phí trung gian ($IC = \sum C_i$), Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$), và Thu nhập hỗn hợp ($MI = VA - (D + T)$), trong đó $D$ là khấu hao tài sản cố định và $T$ là các khoản thuế phải nộp.
5. Vì sao đàn trâu và đàn lợn của thị trấn đều có xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn 2012 - 2014?
Theo số liệu của UBND thị trấn, tổng đàn trâu giảm từ 520 con xuống 434 con (giảm 86 con) do người dân bán trâu để mua sắm máy móc phục vụ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp kết hợp ảnh hưởng của thời tiết rét hại mùa đông (nhiệt độ hạ xuống 2°C). Đàn lợn sụt giảm mạnh từ 3.980 con xuống 3.540 con (giảm 440 con) do dịch bệnh bùng phát thường xuyên khiến người dân không dám đầu tư tái đàn quy mô lớn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thơ đã phản ánh một cách chân thực và chi tiết bức tranh kinh tế - xã hội, thực trạng sử dụng tư liệu sản xuất và đời sống của người dân thị trấn Nà Phặc giai đoạn 2012 - 2014. Thông qua việc kết hợp giữa dữ liệu thống kê địa phương và khảo sát vi mô 60 hộ gia đình tại 3 vùng sinh thái đặc trưng, công trình đã làm rõ các rào cản khách quan và chủ quan dẫn tới tình trạng nghèo đói tại địa bàn miền núi. Các đề xuất giải pháp được phân định theo 4 cấp quản lý mang tính ứng dụng thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.