mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chƣơng 2: Thực trạng giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Khái quát về doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Nhƣ vậy, theo thời gian, việc định nghĩa doanh nghiệp ngày càng rõ ràng, chặt chẽ và đầy đủ hơn, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi tham gia vào môi trƣờng kinh doanh góp phần tạo nền kinh tế phát triển cho xã hội. Doanh nghiệp đƣợc hiểu là cụm từ chung dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp, có nhiều loại hình doanh nghiệp đƣợc quy định theo từng thời kỳ ban hành của Luật nhƣ: công ty nhà nƣớc, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… Theo Luật Công ty 1990: “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty”. Theo Luật Doanh nghiệp nhà nƣớc 1995: “Doanh nghiệp nhà nƣớc là tổ chức kinh tế do nhà nƣớc đầu tƣ vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nƣớc giao”.
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nƣớc 2003, “Doanh nghiệp nhà nƣớc là tổ chức kinh tế do nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. 7 Theo Luật doanh nghiệp 2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo Luật doanh nghiệp năm 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Ta thấy qua từng thời kỳ, việc định nghĩa doanh nghiệp ngày càng rõ ràng, chặt chẽ và đầy đủ hơn, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi tham gia vào môi trƣờng kinh doanh góp phần tạo nền kinh tế phát triển cho xã hội. Ở nhiều nƣớc trên thế giới, việc đăng ký kinh doanh đƣợc tiến hành tại tòa án. Tuy nhiên, ở nƣớc ta việc đăng ký kinh doanh đƣợc thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Doanh nghiệp đƣợc tự do lựa chọn loại hình kinh doanh phù hợp với nhu cầu, khả năng của ngƣời thành lập doanh nghiệp, ngƣời thành lập doanh nghiệp lập và nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh tƣơng ứng tại cơ quan đăng ký kinh doanh và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ.
Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Không đƣợc yêu cầu ngƣời thành lập công ty nộp thêm các tài liệu, giấy tờ không đƣợc quy định. Sau khi thực hiện đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp sẽ đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đã đƣợc ghi nhận vào sổ đăng ký kinh doanh đƣợc công bố thông tin tại cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Kể từ thời điểm này, doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân và nhân danh chính mình thực hiện các hoạt động kinh doanh. 8 Các loại hình doanh nghiệp theo quy định tại Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/06/2020 gồm: - Doanh nghiệp tƣ nhân: do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu này chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ đã đăng ký.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. - Công ty cổ phần: có vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, ngƣời sở hữu cổ phần gọi là cổ đông; số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng tối đa. - Công ty hợp danh: có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty.
ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Các tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 nhƣ sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ hoặc nguồn vốn không quá 3 tỷ. - Doanh nghiệp nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân không quá 50 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ. 9 - Doanh nghiệp vừa: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ hoặc tồng nguồn vốn không quá 100 tỷ.2 Đặc điểm doanh nghiệp Nhƣ ta biết, sản xuất và kinh doanh là hai chức năng cơ bản giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một quy trình khép kín.
Mục tiêu cơ bản mà doanh nghiệp mong muốn đạt đƣợc là tối đa hóa lợi nhuận mà muốn đạt đƣợc điều này là doanh nghiệp phải tìm cách đáp ứng nhu cầu thiết yếu của ngƣời tiêu dùng một cách tốt nhất. Doanh nghiệp khi tham gia vào môi trƣờng kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng là chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại và định hƣớng sự phát triển kinh doanh phù hợp thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh trong từng giai đoạn. Tổ chức kinh tế chuyên nghiệp: Theo các quy định hiện hành của Việt Nam “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi.” Nhƣ vậy, chỉ khi một tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho ngƣời tiêu dùng một cách chuyên nghiệp, liên tục, thƣờng xuyên, lâu dài thì tổ chức đó mới có thể đƣợc coi là một doanh nghiệp. Đa phần các doanh nghiệp đƣợc thành lập nhằm mục đích kinh doanh, mua bán hàng hóa tạo lợi nhuận hoặc cung ứng dịch vụ hoặc cả hai để phục vụ lợi ích ngƣời tiêu dùng.
Bên cạnh đó, cũng có một số doanh nghiệp đặc thù, thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp này đa phần là doanh nghiệp công ích hoặc doanh nghiệp xã hội, do Nhà nƣớc thành lập và chủ sở hữu, thực hiện các hoạt động vì lợi ích của cộng đồng và xã hội. Có tính tổ chức: Phần lớn các doanh nghiệp đều là những tập thể có tính tổ chức cao. Tính tổ chức đƣợc thể hiện ở chỗ doanh nghiệp đƣợc thành lập luôn có trụ sở giao dịch, cơ cấu quản lý điều hành chuyên nghiệp, nhân sự. Chính vì 10 vậy, pháp luật các nƣớc trong đó có Việt Nam, quy định về tƣ cách pháp nhân của hầu hết các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp tƣ nhân có vốn gắn liền với chủ sở hữu doanh nghiệp.
Có tính hợp pháp: Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp đăng ký và đƣợc cấp phép thành lập và hoạt động mà còn thể hiện ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một tập thể độc lập và phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình bằng tài sản riêng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu có nghĩa vụ và chịu trách nhiệm tài chính trong việc thanh toán những khoản nợ khi chấm dứt hoạt động kinh doanh.3 Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế Doanh nghiệp có vị trí rất đặc biệt trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP). Hoạt động của doanh nghiệp đã có bƣớc phát triển đột biến góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và phát triển kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách. Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, quyết định đến chuyển dịch cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân nhƣ: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phƣơng.
Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập. Từ đó cho thấy vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội.2 Khái niệm, đặc điểm đăng ký kinh doanh 1.