Nguyễn Kim Hùng nghiên cứu triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào cho kiểm định chất lượng sản phẩm huyết thanh kháng dại lưu hành tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ dược học của Nguyễn Kim Hùng nghiên cứu triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào, ứng dụng kiểm định

Chuyên ngành

Hóa Sinh Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Dược học

2024

59
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại Hướng dẫn chi tiết

Bệnh dại là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là ở Việt Nam. Việc kiểm định chất lượng sản phẩm huyết thanh kháng dại là cần thiết để đảm bảo hiệu quả phòng chống bệnh dại. Nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng đã triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào, mang lại những đóng góp quan trọng cho ngành dược học. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá phương pháp này và ứng dụng thực tiễn của nó.

1.1. Tổng quan về bệnh dại và huyết thanh kháng dại

Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus dại gây ra. Nó ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Huyết thanh kháng dại là một biện pháp quan trọng trong phòng ngừa và điều trị bệnh dại. Hiểu rõ về bệnh dại và vai trò của huyết thanh kháng dại là bước đầu tiên trong việc triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại. Trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng, tác giả đã cung cấp cái nhìn tổng quan về bệnh dại, dịch tễ học, và các phương pháp phòng ngừa hiện có. Ngoài ra, tác giả cũng giới thiệu về huyết thanh kháng dại và các sản phẩm trên thị trường, bao gồm cơ chế trung hòa của kháng thể trung hòa virus và vai trò của chúng trong phòng chống bệnh dại.

1.2. Thách thức trong xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại

Xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự chính xác cao. Nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng đã chỉ ra những thách thức trong việc xác định hiệu giá này, bao gồm sự thiếu hụt các phương pháp chuẩn xác và hiệu quả. Tác giả đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có một phương pháp mới, hiệu quả hơn để kiểm định chất lượng sản phẩm huyết thanh kháng dại lưu hành tại Việt Nam. Trong phần này, chúng ta sẽ khám phá những khó khăn và hạn chế trong các phương pháp hiện tại, và lý do tại sao việc triển khai phương pháp mới là cần thiết.

1.3. Phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào

Phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào được đề xuất trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng mang lại nhiều lợi ích. Tác giả đã trình bày chi tiết về phương pháp này, bao gồm nguyên lý hoạt động, các bước thực hiện, và thiết bị cần thiết. Phương pháp này sử dụng tế bào sống để xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại, cho phép đánh giá chính xác hơn so với các phương pháp truyền thống. Trong phần này, chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết của phương pháp, bao gồm các bước chuẩn bị, thực hiện thử nghiệm, và cách tính toán hiệu giá kháng thể. Ngoài ra, tác giả cũng thảo luận về các lợi thế và hạn chế của phương pháp này so với các phương pháp khác.

1.4. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào đã được áp dụng thành công trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng. Tác giả đã trình bày kết quả nghiên cứu, bao gồm hiệu quả của phương pháp trong việc xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại. Kết quả cho thấy phương pháp này có độ chính xác cao và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng thảo luận về ứng dụng thực tiễn của phương pháp này trong kiểm định chất lượng sản phẩm huyết thanh kháng dại lưu hành tại Việt Nam. Trong phần này, chúng ta sẽ khám phá những tác động và lợi ích của phương pháp này đối với ngành dược học và sức khỏe cộng đồng.

II. Triển khai phương pháp và kết luận

Triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào là một bước tiến quan trọng trong ngành dược học. Nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng đã cung cấp một hướng dẫn chi tiết và hiệu quả cho việc thực hiện phương pháp này. Trong phần này, chúng ta sẽ thảo luận về các bước triển khai, bao gồm chuẩn bị vật liệu, thiết bị, và thực hiện thử nghiệm. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến các vấn đề kỹ thuật và cách giải quyết chúng. Cuối cùng, chúng ta sẽ kết luận về ý nghĩa và tác động của phương pháp này đối với ngành dược học và sức khỏe cộng đồng.

2.1. Chuẩn bị vật liệu và thiết bị

Để triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào, cần chuẩn bị các vật liệu và thiết bị cần thiết. Trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng, tác giả đã liệt kê chi tiết các hóa chất, thuốc thử, và sinh phẩm cần thiết. Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp thông tin về trang thiết bị và địa điểm nghiên cứu. Trong phần này, chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết về việc chuẩn bị vật liệu và thiết bị, bao gồm các bước chuẩn bị và lưu trữ, cũng như các vấn đề an toàn cần lưu ý.

2.2. Thực hiện thử nghiệm và tính toán hiệu giá

Thực hiện thử nghiệm xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự chính xác cao. Trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Hùng, tác giả đã trình bày chi tiết các bước thực hiện thử nghiệm, bao gồm chuẩn bị tế bào, chuẩn độ virus, và thực hiện thử nghiệm trung hòa. Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp hướng dẫn về cách tính toán hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại. Trong phần này, chúng ta sẽ khám phá các bước thực hiện thử nghiệm, bao gồm các kỹ thuật và phương pháp cần thiết, cũng như cách giải quyết các vấn đề kỹ thuật có thể gặp phải.

2.3. Kết luận và tương lai của phương pháp

Phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào do Nguyễn Kim Hùng nghiên cứu và triển khai đã mang lại những kết quả tích cực và hứa hẹn. Trong phần kết luận, tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa và tác động của phương pháp này đối với ngành dược học và sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, tác giả cũng thảo luận về các hướng phát triển và ứng dụng thực tiễn trong tương lai. Trong phần này, chúng ta sẽ tóm tắt những điểm chính của nghiên cứu, bao gồm những đóng góp và hạn chế của phương pháp, cũng như những hướng nghiên cứu tiếp theo có thể được thực hiện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Nguyễn kim hùng nghiên cứu triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa virus dại trên tế bào cho kiểm định chất lượng sản phẩm huyết thanh kháng dại lưu hành tại việt nam luận văn thạc sĩ dược học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh dại là bệnh nhiễm virus dại (Rhabdo virus) cấp tính của hệ thống thần kinh trung ương từ động vật sang người bởi chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm vius dại thông qua vết cắn, vết thương, vết cào, liếm của động vật (thường là chó, mèo) [1, 2]. Theo thống kê có hơn 3,3 tỷ người trên toàn thế giới sống ở những khu vực có dịch bệnh dại với tỷ lệ tử vong ở người do bệnh dại trên thế giới được ước tính là 59. Tuy nhiên, bệnh có thể ngăn ngừa bằng cách chăm sóc vết thương đúng cách và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm kịp thời [4]. Dự phòng sau phơi nhiễm bao gồm cả việc tiêm phòng vaccine (tiêm chủng chủ động) cũng như sử dụng globulin miễn dịch kháng bệnh dại (tiêm chủng thụ động).

Tiêm phòng vaccine sau phơi nhiễm sẽ dẫn đến sự phát triển của globulin miễn dịch, nhưng không sớm hơn 2-3 tuần và do đó, việc sử dụng đồng thời globulin miễn dịch bệnh dại (huyết thanh kháng bệnh dại) được xem là phương pháp tốt nhất [1, 5]. Do vậy, việc xác định chất lượng, hiệu giá của huyết thanh kháng dại là cần thiết để đảm bảo chất lượng, hiệu quả cũng như độ an toàn của huyết thanh. Hiện tại việc xác định hiệu lực huyết thanh kháng dại theo Dược điển Việt Nam 5 cũng như thực tế tại Viện Kiểm Định Quốc Gia Vắc Xin & Sinh Phẩm Y Tế (NICVB) sử dụng phương pháp trung hòa kháng thể trên chuột nhắt trắng (MNT). Phương pháp này có nhiều nhược điểm về thời gian, kinh tế, tính nhân đạo cũng như độ lặp lại, lưu giữ kết quả vì vậy cần phải nghiên cứu phương pháp khác thay thế phương pháp MNT.

Để giải quyết những bất cập hiện nay trong việc xác định hiệu giá huyết thanh kháng dại, đặc biệt là những hạn chế của phương pháp trung hòa kháng thể trên chuột nhắt trắng (MNT), cần thiết phải tìm kiếm một phương pháp thay thế hiệu quả hơn. Năm 2018 Tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo có thể áp dụng phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa trên tế bào BHK21 (FAVN) cho đánh giá vắc xin và huyết thanh kháng dại, phương pháp này rút ngắn thời gian thực hiện và không phải sử dụng trên động vật thí nghiệm, hơn nữa độ dao động của phương pháp không cao, có độ tin cậy lớn. Dược điển Châu Âu cũng có chuyên luận xác định hiệu giá của huyết thanh kháng dại từ người bằng phương pháp này [6]. Tuy nhiên đây là một phương pháp mới chưa từng thực hiện trên đối tượng huyết thanh kháng dại sản xuất từ huyết thanh ngựa 1 tinh chế tại Việt Nam.

Việc xây dựng được quy trình thực hiện trên đối tượng huyết thanh kháng dại sản xuất bằng huyết thanh ngựa sẽ giúp triển khai thực hiện phương pháp này trong kiểm định sinh phẩm kháng huyết thanh dại tại Viện Kiểm định Quốc gia vắc xin và Sinh phẩm y tế và nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu triển khai phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trung hòa kháng virus dại trên tế bào cho kiểm định chất lượng sản phẩm huyết thanh kháng dại lưu hành tại Việt Nam” được thực hiện với hai mục tiêu như sau: 1. Thực hiện và thẩm định tiêu chí độ đúng, độ chính xác của quy trình xác định hiệu giá kháng thể trung hòa kháng virus dại trên tế bào (FAVN). So sánh quy trình xác định hiệu giá kháng thể trung hòa kháng virus dại trên tế bào (FAVN) với quy trình dùng phương pháp trung hòa trên chuột nhắt trắng (MNT).

Tổng quan về bệnh dại 1. Bệnh dại Bệnh dại là một bệnh viêm não cấp tính, tiến triển do virus gây ra, đã có từ trước công nguyên. Hầu hết các tài liệu y văn về chủ đề này đều ghi nhận bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm lâu đời nhất [1]. Tác nhân gây bệnh là virus dại (Rhabdovirus) thuộc họ Rhabdoviridae, chi Lyssavirus.

Virus có hình viên đạn một đầu tròn, đầu kia dẹt với chiều dài trung bình 100-300 nm, đường kính 70-80 nm [7]. Bệnh dại có thể do nhiễm bất kỳ loại nào trong số 16 loại virus hiện được công nhận thuộc chi Lyssavirus [8]. Phần lớn các trường hợp tử vong do bệnh dại ở người hàng năm là do RABV (Rabies virus) trong khi chỉ có 16 trường hợp tử vong ở người được biết đến từ tất cả các thành viên khác của chi Lyssavirus cộng lại [9]. Virus dại dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ 56oC trong vòng 30 phút, ở 60oC/5-10 phút và ở 70oC/2 phút.

Virus bị mất độc lực dưới ánh sáng và các chất sát khuẩn ở nồng độ 2-5%. Trong điều kiện lạnh 4oC, virus sống được từ vài tuần đến 12 tháng, ở nhiệt độ dưới 0oC sống được từ 3 - 4 năm. Virus dại được bảo tồn chủ yếu trong cơ thể vật chủ [1, 7]. Cơ chế lây truyền chính là qua vết cắn của động vật, thông qua nước bọt của vật chủ bị nhiễm bệnh.

Đầu tiên, virus lây nhiễm các dây thần kinh ngoại biên và sau đó di chuyển đến hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, mặc dù bệnh dại gây tử vong khi các triệu chứng đã xuất hiện, nhưng bệnh này có thể phòng ngừa được do thời gian ủ bệnh tương đối dài giữa thời điểm virus xâm nhập và phát triển bệnh lâm sàng. Dịch tễ học Con người bị nhiễm bệnh dại chủ yếu qua vết cắn hoặc vết xước của động vật bị nhiễm bệnh. Chó là vật chủ chính gây lây truyền bệnh dại, với khoảng 99% các trường hợp nhiễm virus ở người xuất phát từ vết cắn của chó.

Về mặt lý thuyết, lây truyền từ người sang người có thể xảy ra, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có trường hợp nào được ghi nhận. Theo thống kê từ năm 2000 đến năm 2013 cho thấy có hơn 3,3 tỷ người trên toàn thế giới sống ở những khu vực có dịch bệnh dại. Tỷ lệ tử vong ở người được ước tính là 3 59.000 ca mỗi năm với thiệt hại kinh tế khoảng 8,6 tỷ USD hàng năm. Gánh nặng kinh tế của bệnh dại là do gây tử vong sớm (55%), tiếp theo là chi phí trực tiếp cho điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (20%), mất thu nhập trong khi điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (15,5%), và chi phí do tổn thất vật nuôi (6%) [1, 3].

Gánh nặng toàn cầu về bệnh dại ở người do chó hàng năm giai đoạn 2000-2013 [3]. A: Số người chết ; B: Tỷ suất chết bình quân đầu người (trên 100 000 dân). Ước tính số ca tử vong do bệnh dại ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Năm Nguồn Các nước Tất cả Toàn ước tham Phương pháp Châu Phi Trung Quốc Ấn Độ Châu Á châu Á và Thế giới châu Á tính khảo khác Châu Phi 2003 [11] Nghiên cứu đa 20565 trung tâm (khảo (16931-24198) sát cộng đồng và hồ sơ bệnh viện) 2003 [12] Mô hình cây xác 23700 2336 19173 9489 30000 55270 suất (6900- 45900) (565–5049) (4192-39733) (2281- (8100- (23910- 61400) 61400) 933057) 2005 [13] Khám nghiệm tử 12700 thi (10000-15000) 2010 [14] Mô hình xác suất 23800 7450 16450 10550* 34500 58300 61000 (21000-28000) (2000-13000) (6000-27000) (6000- (14000- (35000- (37000-86000) 14000) 54000) 82000) 2015 [3] Mô hình cây xác 21502 6002 20847 8126* 37045 58547 59000 suất (1000-11000) (7000-55000) (25000-159000) * Không bao gồm Trung Á 5 Tại Việt Nam, bệnh dại được công nhận là bệnh lây truyền từ động vật sang người có mức độ ưu tiên cao.

Trong 25 năm qua, Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giảm tử vong do bệnh dại ở người. Phần lớn các trường hợp mắc bệnh dại ở người tại Việt Nam là do chó cắn: các trường hợp mắc bệnh dại do động vật hoang dã chưa được báo cáo. Theo dữ liệu dịch tễ học của Bộ Y tế, các trường hợp mắc bệnh dại ở người đã giảm 82%, từ 404 trường hợp năm 1992 xuống còn 74 trường hợp vào năm 2017 [15]. Trong 05 năm (2017-2022), bệnh dại ở nước ta đã gây ra cái chết của 410 người, trên 2,7 triệu lượt người phải điều trị dự phòng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, gây thiệt hại lớn về kinh tế.

Trong năm 2022, cả nước ghi nhận 70 ca tử vong và 3 tháng đầu năm 2023 đã có 23 ca tử vong do bệnh dại [16]. Số bệnh Patients Số ca tử vong ở người nhân được Humandeaths vaccineated tiêm chủng Năm Số ca tử vong ở người Số bệnh nhân được tiêm chủng Hình 1. Số người tiêm phòng dại và số người tử vong do dại từ 1992 đến 2017 tại Việt Nam [15]. Nguyên tắc dự phòng Tỷ lệ sống sót sau khi phơi nhiễm RABV hầu như không đáng kể nếu không tiêm vaccine trước hoặc sau phơi nhiễm [17].

Vật chủ có thể thu được đáp ứng miễn dịch thông qua tiêm chủng. Glycoprotein của virus bệnh dại (G) là mục tiêu trung hòa hiệu 6 quả của các kháng thể đặc hiệu, kháng thể trung hòa virus dại (RVNA) [18-22]. Tiêm vaccine sau phơi nhiễm và sử dụng huyết thanh kháng dại, kết hợp làm sạch vết thương có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa bệnh dại [9, 23]. Chỉ định dùng vaccine và huyết thanh kháng dại trong điều trị dự phòng bệnh dại tùy theo tình trạng động vật, hoàn cảnh bị cắn hoặc tiếp xúc với nguồn bệnh, vị trí bị cắn, số lượng, tình trạng vết cắn và tình hình bệnh dại trong vùng.

Chỉ định điều trị dự phòng bệnh bệnh dại sau phơi nhiễm đối với những người chưa được tiêm phòng bệnh dại được trình bày trong bảng 1. Tóm tắt chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại [5, 9].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ