CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số 1. Các khái niệm liên quan đến nguồn nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động.
Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày nay, NNL còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh 2009). Tổ chức ngân hàng thế giới cho rằng NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. Ở đây NNL được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhưng nó có vai trò đặc biệt vì nó được sử dụng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó.
(Võ Đại Lược,2015) Tổ chức lao động quốc tế - ILO (2010) quan niệm rằng nhân lực đồng nghĩa với lực lượng lao động. Quan niệm này cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. Theo David Begg (2008) cho rằng NNL là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó có thể đem lại thu nhập trong tương lai.
Các tác giả này cho rằng kiến thức mà con người tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất là 10 mấu chốt vì chính kiến thức đó giúp họ tạo ra của cải, tài sản cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chính họ. Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL. Theo Phạm Minh Hạc (2001) nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai. Quan điểm của Bùi Sỹ Lợi (2002) cũng có nhiều điểm chung với quan điểm của Phạm Minh Hạc khi cho rằng NNL của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có trong một thời điểm xác định.
Tiềm năng đó bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc. Theo Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004), NNL được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, NNL là tổng thể tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở một mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể) trong một thời kỳ nhất định (có thể cho 1 năm, 5 năm, 10 năm…) phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển. Theo nghĩa hẹp, NNL là các tiềm năng của con người được lượng hóa theo một chỉ tiêu nhất định do luật định hoặc chỉ tiêu thống kê căn cứ vào độ tuổi và khả năng lao động, tức là có thể đo, đếm được mà quan trọng nhất trong đó là dân số hoạt động kinh tế thường xuyên (còn gọi là lực lượng lao động).
Đó là những người trong độ tuổi lao động theo luật định, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào 11 quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Vốn nhân lực (VNL) NNL chưa phải là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội.
NNL với chất lượng thấp, số lượng đông trong nhiều trường hợp lại trở thành lực cản đối với sự phát triển. Vì vậy, ngày nay người ta quan tâm nhiều đến sự hình thành hoặc đầu tư để nâng cao chất lượng NNL. Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1776) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về VNL: sự tích lũy những tài năng trong quá trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi hỏi chi phí. Đó là tư bản cố định đã kết tinh trong con người.
Những tài năng đó tạo thành một phần tài sản của anh ta và của xã hội. Theo Alfred Marshall (1890): chúng ta thường định nghĩa tài sản của cá nhân trước hết bao gồm năng lượng, năng lực và tài năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuất công nghiệp, những thứ đó được coi là tài sản, là tư bản. Các phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn trong kinh tế lao động xem VNL là một tập hợp các kỹ năng hay đặc điểm làm tăng năng suất của người lao động. Đây là một điểm khởi đầu hữu ích, và cho hầu hết các mục đích thực tiễn là khá đầy đủ.
Tuy nhiên, nó có thể hữu ích để phân biệt giữa một số cách nghĩ bổ sung/ thay thế về VNL. Dưới đây là một số quan điểm (Acemoglu và Autor 2011). Quan điểm của Becker (2011), VNL trực tiếp hữu ích trong quá trình sản xuất. Một cách rõ ràng hơn, VNL làm tăng năng suất của người lao động trong tất cả các nhiệm vụ, mặc dù có thể theo những kiểu khác nhau trong những nhiệm vụ, tổ chức, hay trong những tình huống khác nhau.
Theo quan điểm này, mặc dù vai trò của NNL trong quá trình sản xuất có thể khá phức tạp, có một ý nghĩa mà chúng ta có thể nghĩ về nó như được đại diện (có thể biểu diễn) bằng một đối tượng đơn chiều, chẳng hạn như vốn kiến thức hoặc kỹ năng, và vốn này là một phần trực tiếp của hàm sản xuất. 12 Quan điểm Gardener: chúng ta không nên xem VNL là đơn chiều, bởi kỹ năng có rất nhiều chiều hoặc loại. Một phiên bản đơn giản của phương pháp này nhấn mạnh năng lực tinh thần so với năng lực thể chất như những kỹ năng khác nhau. Quan điểm này được đặt tên là Gardener sau công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học xã hội Howard Gardener (2010), người đã đóng góp cho sự phát triển của thuyết đa trí tuệ, đặc biệt nhấn mạnh có rất nhiều thiên tài, người nổi tiếng đã rất “kém cỏi” trong một số chiều khác.
Quan điểm Schultz, Nelson- Phelps (2010), VNL được xem chủ yếu là khả năng thích ứng. Theo phương pháp tiếp cận này, VNL đặc biệt hữu ích trong việc đối phó với các tình huống “mất cân bằng”, hay rộng hơn, với các tình huống trong đó có sự thay đổi môi trường, và người lao động phải thích ứng với điều này. Quan điểm Bowles, Gintis (2011), VNL là khả năng làm việc trong các tổ chức, chấp hành mệnh lệnh, tóm lại, thích ứng với cuộc sống trong một xã hội phân cấp tư bản chủ nghĩa. Theo quan điểm này, vai trò chính của trường học là để thấm nhuần trong cá nhân hệ tư tưởng và phương pháp tiếp cận “đúng” đối với cuộc sống.
Quan điểm Spence (2011), Các tiêu chuẩn đánh giá NNL có thể được quan sát thiên về tín hiệu năng lực hơn là các đặc điểm hữu ích một cách độc lập trong quá trình sản xuất. Còn Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế OECD (2001) định nghĩa rằng VNL là những gì có liên quan đến tri thức, kỹ năng và những thuộc tính tiêu biểu khác của một cá nhân mà nó có ảnh hưởng đến những hoạt động kinh tế. Do đó, vốn nhân lực xét về mặt cá nhân, thể hiện mặt chất lượng của sức lao động. Xét về mặt xã hội, vốn nhân lực bao gồm số lượng - tiềm năng lao động xã hội (thể hiện thông qua số lượng người lao động) và chất lượng - tính năng động xã hội của NNL, đó là khả năng sáng tạo, khả năng thích ứng, năng lực, phẩm chất… của NNL.
Vốn nhân lực là động lực trực tiếp của tăng trưởng kinh tế. Khái niệm và đặc trưng của chuyển đổi số Trong những năm gần đây, thuật ngữ ‘chuyển đổi số’ được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới và trong nước. Tuy nhiên, do mức độ ảnh hưởng cũng như cách tiếp cận và phạm vi trải rộng của chuyển đổi số trên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nên có khá nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số và hiện chưa có một định nghĩa chung, thống về chuyển đổi số. Theo Tech Republic (Tạp chí trực tuyến của cộng đồng xã hội dành cho các chuyên gia CNTT), chuyển đổi số được định nghĩa là “cách sử dụng công nghệ để thực hiện lại quy trình sao cho hiệu quả hơn”.
Còn theo Gartner thì “chuyển đổi số là việc sử dụng các công nghệ số để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra những cơ hội, doanh thu và giá trị mới”. Trong khi đó, Microsoft đưa ra khái niệm chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới”.