CHƯƠNG 1 TRUNG QUỐC VÀ MANILA (PHILIPPINE) TRONG BỐI CẢNH ĐÔNG Á THẾ KỶ XVI - XVII 1. Đông Á thế kỉ XVI - XVII Trong các ghi chép lịch sử, từ thời kỳ cổ đại và trung đại, các nước thuộc khu vực Đông Á đã sớm hình thành các mối giao lưu kinh tế, chính trị và văn hóa. Theo Geoff Wade, một “kỷ nguyên thương mại sớm”đã hình thành không chỉ riêng trong phạm vi các nước Đông Nam Á mà đã mở rộng ra toàn khu vực từ thế kỉ X [110, tr. Trong Đông Á, các mối quan hệ qua lại giữa Triều Tiên với Nhật Bản và vùng bắc Trung Quốc hay sự giao lưu giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á với các tỉnh ở phía nam Trung Hoa (Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, Phúc Kiến) đã diễn ra khá thường xuyên.
Có thể nói, trước khi có sự hiện diện của người phương Tây, khu vực Đông Á nói chung đã là một vùng kinh tế sôi động, là điểm gặp gỡ của các nền văn minh lớn. Và theo đó, các thành tựu về kinh tế, kĩ thuật, văn hóa giữa nền văn minh Trung Hoa - Ấn Độ và Tây Nam Á đã xác lập nên một mạng lưới giao thương thịnh vượng mang tính liên vùng và liên thế giới [71], [18]. Cùng với sự trao đổi thường xuyên với mật độ lớn của các yếu tố văn hóa, tôn giáo, những liên hệ kinh tế trong khu vực đã đem nguồn của cải dồi dào đến với từng quốc gia. Những huyền thoại về các thể chế biển, được ghi nhận như Phù Nam (thế kỉ II - VII), Srivijaya (thế kỉ VII - XIII), Majapahit (thế kỉXIII - XVII) và Malacca (thế kỉ 1400 - 1511).
Hầu hết, những thể chế này đều đặc biệt hùng mạnh và có nền kinh tế phát triển rực rỡ. Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa trong nước và quốc tế, các cơ sở sản xuất, những khu thủ công nghiệp mang tính chuyên biệt đã sớm được hình thành. Bên cạnh đó, quá trình trao đổi kĩ thuật sản xuất, kỹ năng chế tác đã tạo nên một lợi thế lớn cho các mặt hàng xuất khẩu và biến góp phần gia tăng giá trị kinh tế cho những sản phẩm này trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XV, một loạt các vương quốc lớn đã lâm vào khủng hoảng và dần dần suy yếu.
Angkor mất đi vị thế của một “đế chế tiểu vùng” từ khoảng thế kỉ XIII. Đế chế Majapahit cũng sụp đổ vào năm 1520 khiến cho khu vực Java bị xé 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhỏ thành các công quốc Hồi giáo riêng rẽ. Tuy nhiên, cùng vào thời gian này, các lực lượng mới nổi lên thay thếnhư: sự ra đời của các tiểu quốc Hồi giáo ở Java, sự thành lập vương quốc Ayuthaya từ năm 1350, vương quốc Malacca từ năm 1400. Sau một thời kì có dấu hiệu đi xuống, quá trình buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa các nước trong khu vực từ giữa thế kỉ XV và nhất là từ thế kỉ XVI trở đi lại diễn ra ngày càng nhộn nhịp.
Đi cùng với sự xuất hiện của những thương nhân phương Tây như người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cho tới các Công ty Đông Ấn lớn EIC, VOC7, nền thương mại biển trong khu vực tiếp tục phát triển. Trên cơ sở đó, bên trong khu vực Đông Á đồng thời đã diễn những cuộc cạnh tranh gay gắt giữa chính các lực lượng thương mại châu Âu cũng như cạnh tranh giữa họ với những thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á. Thông qua đó, sự xuất hiện của các nhóm thương nhân mới trên đã góp phần tích cực cho sự phát triển của mạng lưới giao thương Đông Nam Á và biến nơi đây trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế thế giới, như nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng Anthony Reid nhận định: “Đông Nam Á giai đoạn 1500 - 1660 có thể được xem như là một vùng thương mại phát triển có mối quan hệ với các khu vực khác trên thế giới và với bản thân các vùng khác trong khu vực” [95, tr. Những nỗ lực nhằm tăng cường sự kiểm soát nền giao thương được thực hiện trong thời kì này của chính quyền Trung ương tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Xiêm La… chính là minh chứng rõ ràng cho tình hình hoạt động buôn bán diễn ra hết sức sôi động bên trong khu vực Đông Bắc và Đông Nam châu Á.
Hệ thống các cảng thị lớn mang tính chất quốc tế được thiết lập. Theo Leonard Blussé, có khoảng 30 điểm đỗ trên tuyến phíaĐông và 125 cảng thị quốc tế nằm trên tuyến giao thương phía Tây trong vùng biển Đông Nam Á. Như vậy, khu vực Đông Nam Á vừa là điểm xuất phát, cửa ngõ và cũng là địa bàn trung chuyển của các tuyến giao thương mang tính khu vực, thậm chí liên châu lục. Do vậy, các tuyến đường buôn bán nối liền từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại được mở rộng đã đặt các quốc gia trong khu vực Đông Á từ thế kỉ XV vào trong “kỷ nguyên của 7 EIC: English India Company thành lập năm 1600.
VOC: Vereenigde Oost-Indische Compagnie thành lập năm 1602 [9]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thương mại” hay “kỷ nguyên của đại dương” của khu vực nói riêng và của thế giới nói chung [17, tr. Trung Quốc trong bối cảnh Đông Á thế kỉ XVI - XVII 1. Trung Quốc thế kỉ XVI - XVII Trước thế kỉ XVI, hoạt động giao thương giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Tây Á đã sớm hình thành và phát triển.
Vị thế và tầm ảnh hưởng của nền quân chủ tập quyền Trung Hoa, theo đó, sớm có ảnh hưởng và tác động đến các quốc gia lân cận. Ngay từ thời nhà Đường (618 - 971) cho tới thời Tống (690 - 1279), nhà Nguyên (1206 - 1368) và nhà Minh (1368 - 1644), Trung Quốc sở hữu diện tích đất đai rộng lớn, nguồn nhân công dồi dào, trình độ tay nghề cao và kĩ thuật sản xuất vượt trội. Cùng với đó là mạng lưới thương mại rộng lớn trên đất liền và trên biển, góp phầnđưa các sản phẩm của Trung Quốc đến với các thị trường trong khu vực và thế giới. Tình hình buôn bán giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á diễn ra hết sức thường xuyên.
Từ thời nhà Minh, đồng tiền Trung Quốc sớm được lưu hành rộng rãi ở các khu vực cảng thị thuộc Java, Maluccu, Malaya [110, tr. Đặc biệt, sau sự kiện 7 lần thám hiểm xuống phía nam của Trịnh Hòa (1405 - 1433), chính quyền nhà Minh đã tăng cường tầm ảnh hưởng của mình lên hầu hết các quốc gia trong khu vực. Uy quyền và vị thế của “thiên triều” ngày một được củng cố và trở thành một trong những yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy và gia tăng thanh thế cho nền kinh tế - chính trị của Trung Quốc giai đoạn này [4, tr. Bên cạnh đó, bắt đầu từ thế kỉ XV, sự xuất hiện của những đoàn thuyền buôn phương Tây tại vùng biển Đông Á đã góp phần tạo nên những biến chuyển sâu sắc.
Hoạt động giao thương không còn gói gọn trong phạm vi giữa Trung Quốc với các quốc gia cùng khu vực nữa; thay vào đó, một hệ thống thương mại mới mang tính liên châu lục, xuyên đại dương đã ra đời. Lần đầu tiên trong lịch sử, người phương Tây có thể tiếp cận trực tiếp với nguồn sản xuất, tài nguyên dồi dào của thế giới phương Đông chứ không phải thông qua những lời kể mang đậm mầu sắc huyền thoại. Đứng trước một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng, các thương nhân châu Âu 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã nhanh chóng thiết lập cho mình những chỗ đứng vững chắc trong khu vực Đông Nam Á cũng như với Trung Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự thâm nhập của các lực lượng thương mại như người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha sau đó là Anh, Hà Lan, Pháp… sự ổn định trong nền kinh tế xã hội phương Đông đã xuất hiện những đảo lộn nhất định [11, tr.
Đặc biệt, với vị thế là nền kinh tế chủ đạo - điểm đầu và điểm cuối của mọi tuyến đường buôn bán, chính quyền nhà Minh đã có những biện pháp thay đổi nhằm thích nghi với hoàn cảnh. Có thể nói, nền tảng kinh tế của Trung Quốc đã trải qua một quá trình xây dựng và củng cố liên tục. Đến thời Minh, cùng với sự phát triển rực rỡ của nền sản xuất và thương mại khu vực, sự hiện diện của các đoàn thương thuyền phương Tây đã góp phần đưa Trung Quốc hội nhập mạnh hơn vào “thời đại hoàng kim” của hệ thống thương mại châu Á [17, tr. Về một số chính sách thương mại của triều Minh đến cuối thế kỷ XVI Ngay sau khi giành quyền lực từ nhà Nguyên, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1368 - 1399) đã lập tức ban hành chính sách “Hải Cấm” (Hai - chin) để nghiêm cấm toàn bộ thuyền buôn đến các cảng thị trong khu vực.
Chính sách này được thực hiện một cách ráo riết với mục đích chính là ngăn ngừa sự quấy nhiễu của các nhóm hải tặc nguy hiểm đang hoạt động quanh vùng biển nam Trung Hoa và bảo vệ nền vương quyền non trẻ. Chu Nguyên Chương quy định cấm hoàn toàn không để bất kì một con thuyền từ đất liền đi ra biển [28, tr. Đồng thời, nhằm tăng cường uy thế của “thiên triều”, nhà Minh đã kết hợp chính sách Hải cấm với chính sách “triều cống” mà đối tượng hướng đến là các quốc gia “chư hầu”. Bằng cách áp dụng này, nhà Minh đã nắm quyền chủ động cùng một lúc cả ngoại giao và ngoại thương.8 Cùng với đó, nền sản xuất hàng hóa không bị trì trệ vì tình trạng đóng cửa mà vẫn tiếp tục phát triển và trở thành thế độc quyền của Trung Quốc so với các quốc gia khác trong khu vực.
8 Bên cạnh chính sách Hải Cấm, nhà Minh đồng thời ban hành chính sách triều cống đối với các nước chư hầu. Hàng năm, các nước chư hầu bên cạnh việc mang vật phẩm tiến cống thể hiện sự thần phục với triều đình nhà Minh thì họ có quyền đem theo các đoàn thương gia để buôn bán, trao đổi hàng hóa một cách công khai. Giới nghiên cứu gọi đây là hiện tượng “Thương mại triều cống”. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Không những vậy, cuộc viễn du của Trịnh Hòa tới khu vực Nam Dương và Ấn Độ Dương diễn ra từ năm 1405 đến năm 1433 cho phép Trung Quốc phô diễn quyền lực của mình tới các chính quyền khác trong khu vực.