Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, cải cách tư pháp được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân. Thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trong giai đoạn 5 năm từ năm 2005 đến năm 2009 ghi nhận hàng trăm nghìn vụ án hình sự được thụ lý, điều tra, truy tố và xét xử. Tuy nhiên, hoạt động tư pháp thời kỳ này vẫn bộc lộ những tồn tại nghiêm trọng như tình trạng trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhiều lần, các trường hợp đình chỉ vụ án do bị can không có hành vi phạm tội, hoặc oan sai trong phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trước bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, yêu cầu đặt ra là phải "thực hiện cơ chế công tố gắn liền với hoạt động điều tra" và "nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa". Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự (mã số: 60 38 40) của tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Độ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010, đã tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm sáng tỏ vị trí, vai trò, quyền hạn, nghĩa vụ và mối quan hệ tố tụng của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân.
Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật và hiệu quả hoạt động thực tiễn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên giai đoạn 2005-2009, từ đó xác lập cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp, tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ kiểm sát trong giai đoạn cải cách tư pháp mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Nổi bật là việc vận dụng luận điểm của V.I. Lênin trong tác phẩm "Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế", khẳng định sự cần thiết của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, không bị chia cắt bởi tính cục bộ địa phương. Đồng thời, nghiên cứu quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW.
Về mặt khoa học pháp lý hình sự, công trình phân tích chuyên sâu các khái niệm then chốt:
- Quyền công tố: Quyền nhân danh nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội, kéo dài từ khi phát hiện dấu hiệu tội phạm cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Thực hành quyền công tố: Chuỗi hành vi tố tụng do Viện kiểm sát thực hiện nhằm bảo đảm khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội chính xác trước Tòa án.
- Người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát: Chủ thể có thẩm quyền tư pháp gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.
Khung lý thuyết vận hành dựa trên hệ thống 7 nguyên tắc tố tụng cơ bản: nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003), tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4), mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 5), bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự của công dân (Điều 7), xác định sự thật khách quan của vụ án (Điều 10), trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng (Điều 12), và nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại (Điều 30).
Phương pháp nghiên cứu
Công trình thu thập và xử lý hệ thống dữ liệu sơ cấp lẫn thứ cấp trên phạm vi toàn quốc trong mốc thời gian 5 năm (2005-2009), kết hợp dữ liệu đào tạo cán bộ kiểm sát từ năm 2005 đến tháng 4/2008. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ các báo cáo tổng kết chuyên đề, báo cáo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và thống kê nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với hệ thống văn bản pháp quy từ giai đoạn lập quốc năm 1945 đến năm 2010 được lựa chọn nhằm bảo đảm tính lịch sử và hệ thống. Tác giả kết hợp linh hoạt các phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học, phương pháp lịch sử cụ thể qua 3 giai đoạn (1945-1960, 1960-2002, 2002-2010), cùng phương pháp thống kê mô tả để lượng hóa các sai sót nghiệp vụ, tỷ lệ án hủy, án trả hồ sơ và tỷ lệ đình chỉ điều tra.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực trạng pháp luật và dữ liệu thống kê giai đoạn 2005-2009 mang lại các kết quả then chốt sau:
Thứ nhất, việc thể chế hóa vị thế tố tụng có bước phát triển quan trọng nhưng chưa đồng bộ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 lần đầu tiên đã phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa Viện trưởng và Kiểm sát viên tại các Điều 36 và Điều 37. Tuy nhiên, sự tách bạch giữa thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp và quyền năng tố tụng độc lập của Kiểm sát viên chưa rõ ràng. Kiểm sát viên vẫn bị ràng buộc bởi cơ chế báo cáo thỉnh thị, phiếu đề xuất xin ý kiến lãnh đạo Viện, dẫn đến tính chủ động và quyền tự quyết tại phiên tòa bị triệt tiêu đáng kể.
Thứ hai, phát hiện điểm nghẽn nghiêm trọng trong cơ chế ủy quyền công tố giữa các cấp Viện kiểm sát. Đối với các vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thụ lý, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và ban hành cáo trạng nhưng lại ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp tỉnh giữ quyền công tố tại phiên sơ thẩm. Khoảng thời gian luật định chỉ 3 ngày để chuyển giao hồ sơ khiến Kiểm sát viên cấp tỉnh không đủ thời gian nghiên cứu hàng nghìn bút lục phức tạp, dẫn đến tình trạng lúng túng, bị động và chỉ biết bảo lưu quan điểm tại phiên tòa thay vì tranh luận đối đáp thực chất với luật sư.
Thứ ba, dữ liệu thống kê phản ánh chất lượng công tác thực hành quyền công tố chưa đồng đều. Số liệu thống kê kết quả bồi dưỡng cán bộ từ năm 2005 đến tháng 4/2008 cho thấy nỗ lực chuẩn hóa trình độ chuyên môn, nhưng trên thực tế giai đoạn 2005-2009, số lượng vụ án Viện kiểm sát và Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung vẫn chiếm tỷ lệ đáng lưu ý (dao động từ 2% đến 4% tổng số án thụ lý qua các năm). Một số vụ án phải đình chỉ do không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm, làm phát sinh trách nhiệm bồi thường oan sai theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa mô hình tổ chức "tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành" và yêu cầu tranh tụng dân chủ tại phiên tòa. Nguyên tắc tập trung thống nhất được quy định từ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, tái khẳng định năm 1981, 1992 và 2002 là công cụ bảo đảm pháp chế, nhưng khi áp dụng cứng nhắc vào tố tụng đã biến quan hệ giữa Viện trưởng và Kiểm sát viên thành quan hệ chỉ huy - phục tùng tuyệt đối.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp trực quan qua bảng đối sánh xu hướng giữa số lượng án trả hồ sơ điều tra bổ sung và tỷ lệ Kiểm sát viên được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tranh tụng qua các năm 2005-2009. Biểu đồ này sẽ làm rõ luận điểm: Trình độ nghiệp vụ và quyền hạn độc lập của Kiểm sát viên tại tòa có mối tương quan nghịch với tỷ lệ sai sót tố tụng. Về quan hệ liên ngành với Cơ quan điều tra, quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về quyền kiến nghị của Cơ quan điều tra lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (thời hạn giải quyết 20 ngày) đôi khi gây ách tắc tiến độ giải quyết vụ án, đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp và chế ước minh bạch hơn.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
-
Đổi mới tổ chức bộ máy và mô hình Viện kiểm sát: Thực hiện tái cơ cấu hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo thẩm quyền xét xử 4 cấp (sơ thẩm khu vực, phúc thẩm, cấp cao, tối cao) không phụ thuộc vào địa giới hành chính, hoàn thành lộ trình trước năm 2015. Xóa bỏ cơ chế ủy quyền công tố bất cập giữa Viện kiểm sát tối cao và địa phương bằng cách quy định cấp nào truy tố thì cấp đó trực tiếp cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm.
-
Hoàn thiện hệ thống quy phạm tố tụng hình sự: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm tăng thẩm quyền độc lập cho Kiểm sát viên. Cho phép Kiểm sát viên tại phiên tòa được quyền chủ động rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, chuyển đổi sang tội danh nhẹ hơn trên cơ sở diễn biến tranh tụng mà không cần xin ý kiến tạm hoãn phiên tòa từ Viện trưởng.
-
Chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ kiểm sát: Đặt mục tiêu đến năm 2015 đạt 100% Kiểm sát viên được đào tạo kỹ năng tranh tụng chuyên sâu, kỹ năng kiểm sát khám nghiệm hiện trường và hỏi cung theo tiêu chuẩn mới. Thực hiện quy trình thi tuyển chức danh Kiểm sát viên công khai, cạnh tranh gắn liền với việc phân loại ngạch bậc Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp.
-
Hiện đại hóa cơ sở vật chất và bảo đảm chế độ trách nhiệm: Tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật phục vụ ghi âm, ghi hình trong hoạt động kiểm sát điều tra; ban hành chính sách đãi ngộ đặc thù về phụ cấp trách nhiệm nghề nghiệp tư pháp; đồng thời thực thi nghiêm ngặt Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) để cá thể hóa trách nhiệm hoàn trả của cán bộ để xảy ra oan sai.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình là nguồn tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:
-
Kiểm sát viên và Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và giải pháp thực tiễn để nâng cao kỹ năng kiểm sát điều tra, xử lý tình huống phát sinh tại phiên tòa và quản trị mối quan hệ hành chính - tố tụng trong nội bộ đơn vị.
-
Điều tra viên, Thẩm phán và Luật sư: Giúp các chức danh tư pháp hiểu rõ cơ chế vận hành quyền công tố, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra và xét xử, từ đó nâng cao chất lượng phối hợp liên ngành và hiệu quả tranh tụng tại tòa.
-
Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên luật: Tài liệu tham khảo chuẩn mực phục vụ giảng dạy, học tập các học phần Luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Khoa học điều tra tội phạm.
-
Chuyên viên ban soạn thảo pháp luật và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để sửa đổi, hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong các giai đoạn tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
Người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân gồm những ai theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003?
Theo Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát gồm có 3 chức danh: Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên. Những chủ thể này được giao nhiệm vụ thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Tại sao Kiểm sát viên không có quyền độc lập xét xử như Thẩm phán?
Ngành Kiểm sát được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo (Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân). Kiểm sát viên chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng và thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, do đó các quyết định tố tụng lớn đều thuộc thẩm quyền của Lãnh đạo Viện.
Bất cập lớn nhất khi Viện kiểm sát tối cao ủy quyền công tố cho Viện kiểm sát cấp tỉnh là gì?
Kiểm sát viên cấp tỉnh chỉ có 3 ngày nghiên cứu hồ sơ sau khi nhận cáo trạng, không tham gia kiểm sát điều tra từ đầu đối với vụ án lớn nên rất bị động khi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, đồng thời không có quyền tự quyết định rút truy tố tại tòa.
Cơ sở pháp lý nào điều chỉnh trách nhiệm bồi thường oan sai của Viện kiểm sát?
Giai đoạn 2003-2009 áp dụng Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Từ ngày 01/01/2010, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát khi phê chuẩn lệnh bắt, tạm giam trái luật.
Nghị quyết số 49-NQ/TW định hướng gì về vị trí của Viện kiểm sát trong cải cách tư pháp?
Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện cơ cấu Viện kiểm sát theo 4 cấp thẩm quyền, xây dựng cơ chế công tố gắn liền với điều tra, tăng cường năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân chủ và bình đẳng với người bào chữa.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển của chế định người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát từ Sắc lệnh số 33C/1945 đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
- Phân tích sâu sắc 7 nguyên tắc tố tụng và bản chất kép của Viện kiểm sát: vừa thực hành quyền công tố, vừa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.
- Đánh giá thực chứng kết quả công tác giai đoạn 2005-2009, chỉ rõ các tồn tại về án trả điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án và bất cập trong cơ chế ủy quyền công tố.
- Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện lập pháp tố tụng, tái cấu trúc mô hình Viện kiểm sát 4 cấp và nâng cao năng lực đội ngũ Kiểm sát viên.
- Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách tư pháp giai đoạn 2010-2020 của Đảng và Nhà nước.
Quý độc giả, nghiên cứu sinh và các chuyên gia tư pháp quan tâm có thể khai thác, nghiên cứu toàn văn công trình luận văn thạc sĩ luật học để phục vụ công tác nghiên cứu học thuật và thực tiễn áp dụng pháp luật.