Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI ĐAN LAI, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA 1. Tập quán mưu sinh Tập quán mưu sinh là những thói quen trong lao động sản xuất được hình thành qua sự tích lũy kinh nghiệm của nhiều thế hệ cũng như thành viên trong một cộng động. Đồng thời tập quán mưu sinh cũng được hiểu là sự thích nghi của con người trong một môi trường tự nhiên để tận dụng và ứng phó với điều kiện tự nhiên dẫn đến những thói quen trong lao động sản xuất.
Tập quán mưu sinh có mối quan hệ hữu cơ với văn hóa đảm bảo đời sống (văn hóa vật chất), văn hóa xã hội (cấu trúc, thiết chế và các quan hệ xã hội) và văn hóa nhận thức (văn hóa tinh thần: tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, tri thức, văn hóa dân gian, trò chơi dân gian…). Mặt khác cũng như văn hóa tộc người, nó có quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và xã hội), có giao lưu, tiếp nhận, trao đổi với các cộng đồng khác. Văn hóa đảm bảo đời sống Văn hóa đảm bảo đời sống là một khái niệm dùng để chỉ các hoạt động và sản phẩm liên quan đến đời sống vật chất của con người: ăn, mặc, ở, đi lại, dưỡng sinh và trị bệnh…. Đây cũng là một vấn đề khá rộng vì thế đề tài chủ yếu nói đến các lĩnh vực: ăn uống – trang phục – nhà cửa như là ba nhu cầu sớm nhất, bức bách nhất của con người.
Biến đổi văn hóa Biến đổi văn hóa là một quy luật trong phát triển của văn hóa. Biến đổi văn hóa được hiểu là sự thay đổi trạng thái cấu trúc, chức năng của 1 hiện tượng văn hóa so với ban đầu. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào, 10 cho dù có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa, cũng luôn luôn biến đổi. Nó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng văn hóa hoặc một nền văn hoá có trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội.
Cơ chế biến đổi của văn hóa gồm ba loại: truyền bá, tiếp biến và phát minh độc lập và những nhân tố cơ bản tạo nên sự biến đổi văn hoá gồm: Những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội thể hiện qua những chính sách đầu tư phát triển, về môi trường sống, về phương pháp, cách thức sản xuất; về nhu cầu nhận thức, giáo dục nhiều hơn của con người nhằm đáp ứng đòi hỏi của trình độ phát triển xã hội. Điều kiện về kỹ thuật và công nghệ mới đây là một yếu tố cơ bản của sự biến đổi văn hoá. Trong cuộc sống, kỹ thuật công nghệ mới góp phần làm thay đổi trình độ nhận thức, tạo sự phát triển của sản xuất vật chất, làm xuất hiện các loại hình văn nghệ mới như nhiếp ảnh, điện ảnh, rồi những hình thức hiện đại của thông tin như truyền thanh, truyền hình cũng như phổ cập rộng rãi những sản phẩm đó đến với mọi tầng lớp xã hội. Sự giao lưu văn hoá đây cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên biến đổi văn hoá.
Sự biến đổi văn hóa đi liền với sự xuất hiện cái mới trong mỗi nền văn hóa. Cái mới trong văn hóa các cộng đồng là các hiện tượng văn hóa mới dần dần xuất hiện và nảy sinh do sự phát triển nội tại của nền văn hóa, là sản phẩm của quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa các cộng đồng. Sự phát triển nội tại của một hiện tượng văn hóa, một nền văn hóa nhất định bởi những nhân tố bên trong của nó, không có tác động kích thích từ bên ngoài. Điều kiện quan trọng tạo nên sự đổi mới và phát triển của văn hóa là sự phát triển tương ứng của cơ sở kinh tế - xã hội, nó tạo ra nhu cầu và khả năng cho sự sản sinh cũng như sự tiếp thu những nhân tố mới, phát triển văn hóa phải đồng bộ và trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội.
KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG SINH SỐNG CỦA TỘC NGƯỜI ĐAN LAI HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 1. Điều kiện tự nhiên vùng sinh sống của người Đan Lai huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Người Đan Lai sống trong các bản làng thuộc vùng lõi VQG Pù Mát. Các cánh rừng Pù Mát cùng với những nguồn TNTN đã trở thành nơi che chở và duy trì sự sống cho cộng đồng. Với nguồn TNTN phong phú đa dạng và độc đáo, nhiều loài động thực vật quý hiếm có giá trị kinh tế cao VQG Pù Mát được thành lập để bảo vệ sự đa dạng sinh học và những giá trị bền vững cho cuộc sống con người.
Việc rừng quốc gia Pù Mát trở thành KBTTN đã có sự ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của các cộng đồng cư dân ven và trong vùng lõi VQG. Vườn quốc gia Pù Mát được thành lập năm 2002, với diện tích tự nhiên 194.000 ha, trong đó vùng bảo tồn 94.000 ha và vùng đệm 100.000 ha, riêng đỉnh Pù Mát cao 1.841m được xem như chủ sơn cả vùng. Địa hình đa dạng với nhiều cảnh đẹp hấp dẫn nên tháng 11 năm 2007, VQG Pù Mát được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, đồng thời UBND tỉnh Nghệ An cũng đã phê duyệt quy hoạch chi tiết khu du lịch thác khe Kèm. Đây là tiền đề và là điều kiện để vườn quốc gia Pù Mát phát triển du lịch sinh thái.
Vị trí địa lý: VQG Pù Mát nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn, về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 160km đường bộ, toạ độ địa lý của VQG: 18 46' - 19 12' Vĩ độ Bắc, 104 24' - 104 56' Kinh độ Đông. Ranh giới của vườn: phía Nam có chung 61km với đường biên giới Lào, phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Định, Tam Quang (huyện Tương Dương), phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con Cuông), phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn). 12 VQG Pù Mát nằm gọn trong dải Trường Sơn Bắc. Địa hình của vườn phức tạp và hiểm trở, bị chia cắt bởi 3 hệ suối chính là: khe Thơi, khe Choăng và khe Khặng.
Các hệ suối này bắt nguồn từ biên giới Việt – Lào và đổ cả về sông Cả (sông Lam). Trong khu vực có hệ thống sông Cả chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Các con khe như khe Thơi, khe Choăng, khe Khặng lại chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả, trong đó khe Choăng nằm giữa VQG, khe Thơi nằm phía Bắc VQG và khe Khặng nằm phía Nam VQG là một nhánh của sông Giăng qua địa phận xã Môn Sơn. Nhờ hệ thống sông này tạo nên hệ thực vật ven suối rất đa dạng về thành phần loài, góp phần hạn chế xói mòn trong mùa lũ.
Dưới góc độ giao thông đường thủy thì cả ba con khe trên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng khe Choăng và khe Khặng có thể dùng thuyền máy chạy ngược dòng ở phía hạ lưu. Diện tích: Toàn bộ diện tích VQG nằm trong địa giới hành chính của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương tỉnh Nghệ An. Diện tích vùng lõi 94.275ha (sau hiệu chỉnh năm 1999) và vùng đệm khoảng 100.000ha nằm trên diện tích 16 xã. Huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Hợp, Tam Định, Tam Quang, Tam Hoá.
Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn, Yên Khê, Bồng Khê, Chi Khê. Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn. Địa hình - địa mạo: Khu vực có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và khá nguy hiểm, các đỉnh núi có độ dốc lớn trung bình từ 800 đến 1000 m. Phía Tây Nam của 13 VQG là nơi có địa hình tương đối bằng, thấp và là nơi sinh sống trước đây cũng như hiện nay của một số cộng đồng người dân tộc.
Ở đó nhiều hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp đã và đang diễn ra. Nằm trong khu vực còn có khoảng 7.057 ha núi đá sỏi và phần lớn diện tích nằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có khoảng 150 ha nằm trong vùng lõi. Đất đai, thổ nhưỡng : - Đất đai : VQG Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc, quá trình kiến tạo địa chất được hình thành qua các kỷ Paleogen, Đe von, Các bon, Permi, Tri at. đến Miocene cho tới ngày nay.
Trong suốt quá trình phát triển của dãy Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxinin, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu sau: Núi cao trung bình: Nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (Phulaileng cao 2711 m, Rào cỏ cao 2286 m), địa hình vùng này rất hiểm trở, đi lại cực kỳ khó khăn. Kiểu núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của miền và có độ cao từ 1000 m trở xuống, cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn. Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao thấp hơn gồm thung lũng các sông suối khe Thời, khe Choang, khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông Cả. Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200 – 300 m.
Cấu tạo phân phiến dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết. 14 - Thổ nhưỡng : Các loại đất trong vùng đã xác định gồm có đất feralit mùn trên núi trung bình (PH) chiếm 17.7%, phân bố từ độ cao 800 – 1000 m dọc biên giới Việt Lào, đất feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F) chiếm 77.6%, phân bố phía Bắc và Đông Bắc VQG; đất dốc tụ và đất phù sa D, P chiếm 4.7%, phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả; núi đá vôi (K2) chiếm 3.6% phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả. Khí hậu: VQG Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do chịu ảnh hưởng của dãy Trường Sơn đến hoàn lưu khí quyển nên khí hậu ở đây có sự phân hoá và khác biệt lớn trong khu vực. Nhiệt độ trung bình năm 23 – 24oC.