phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương: Chương một: Cơ sở lý luận và những vấn đề chung. Trong chương một, luận văn trình bày những vấn đề cơ bản về ngôn từ thơ, khái quát về ngữ nghĩa học, khái quát về ngữ dụng học và vài nét về văn học và thơ thời kì kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Chương hai: Ngôn từ thơ thời kì kháng chiến chống Pháp nhìn từ bình diện ngữ nghĩa. Trong chương hai, luận văn đi vào phân tích những vấn đề ngữ nghĩa ngôn từ thơ: chất thơ, cảm xúc trong thơ, vấn đề tình thái trong thơ.
Chương ba: Ngôn từ thơ thời kì kháng chiến chống Pháp nhìn từ bình diện ngữ dụng. Trong chương ba, luận văn đi vào phân tích ngữ cảnh trong thơ, biện pháp tăng hiệu lực tại lời và chức năng tác động của thơ. NỘI DUNG Chương một CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Quan niệm thơ Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người, có phạm vi phổ biến sâu và rộng.
Thơ ca bao giờ cũng là tấm gương của tâm hồn, là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời. Thơ là gì? là một câu hỏi lớn. Vì thế, từ thời cổ đại các nhà hiền triết: Arixtốt, Điđơrô, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên. đã bàn đến những vấn đề của thơ.
Bakhtin nhấn mạnh sự khu biệt của cái tôi trữ tình trong thơ: “Thơ là tiếng nói độc bạch, chẳng hạn một bài thơ diễn đạt một nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, một suy tưởng” [62, tr. Tago (Ấn Độ) quan niệm về thơ lại nhấn mạnh đến chức năng giáo dục lí tưởng thẩm mĩ của thơ: “Thơ dạy người ta cảm nhận đời sống một cách tinh tế và sâu sắc. Thơ mở rộng và nâng cao tâm hồn người đọc. Thơ giáo dục con người về cái đẹp” [64, tr.
Raxun Gamzatop lại quan niệm: “Nhà thơ không có con mắt của nhà hiện thực sẽ vất vưởng, sống dở, chết dở. Nhưng chỉ thấy những chuyện có thực thôi thì cũng chẳng hay ho gì hơn. Thơ phi lí chỉ dễ hiểu với chính nhà thơ và bạn bè thân tín của anh ta, đấy là một điều đáng buồn. Nhưng thơ duy lí quá tới mức mọi con lừa đều hiểu được thì còn đáng buồn hơn” [64, tr.
Nghĩa là ông cho rằng thơ phải mang tính gợi mở, nhưng cũng không nên quá trừu tượng vì người đọc khó cảm thụ. Bên cạnh những quan niệm của các tác giả nước ngoài, các tác giả Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về thơ. Tùy từng cái nhìn, sự soi chiếu trên từng mặt, khía cạnh, đặc điểm mà các tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau. Các nhà thơ, những người trực tiếp cầm bút sáng tác thơ lại có quan niệm khác.
Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống; thơ là cái nhụy của cuộc sống; thơ là tiếng nói tri âm; thơ là chuyện đồng điệu” [48, tr. Nhà thơ Lưu Trọng Lư trên Tạp chí văn nghệ (1961) số 48, tháng 5 lại quan niệm “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống”. Với nhà thơ Hoàng Cầm, thơ lại được chú ý ở việc cảm nhận ý nghĩa mỹ học “Thực chất giá trị của một bài thơ là vẻ đẹp và mỹ cảm mà nó mang lại cho người đọc. Không có vẻ đẹp, không còn thơ nữa, chỉ là cái xác không hồn, chỉ còn một bài giáo huấn nôm na, khô khan hay những câu vè ghép vần mà thôi” [6, tr.
Các nhà lý luận, phê bình lại có cái nhìn khác về thơ. Lê Hữu Trác nhấn mạnh: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ. Như thế mới là thơ có giá trị” [64, tr.
Mã Giang Lân lại quan niệm Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp bốn yếu tố ý - tình - hình - nhạc. Phạm Quang Trung trong “Thơ trong con mắt người xưa” viết “Thơ là tình, nhưng là tình không tách rời ý. Nếu chỉ là tình, dẫu là tình tột bậc, cũng không thể làm nên những vần thơ tuyệt bút” [99, tr. Đặng Tiến trong Vũ trụ thơ lại cho rằng “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” [77, tr.
Ông quan niệm “Nguồn thơ nào mà không mang ít nhiều nhan sắc của phôi pha, nếu bản chất của thơ không phải chính là di tích của phôi pha…” [77, tr. Nhà phê bình Hoài Thanh quan niệm: “Thơ là sự thể hiện những rung động chân thành, sâu xa, mãnh liệt của nhà thơ về con người và cuộc sống” [81, tr. Vì vậy, ông cho rằng bình thơ là lao động nghệ thuật nghiêm túc, vất vả, nhưng cũng là một cái nghiệp rất vui, những chuyến đi say người và bổ ích; là cảm hiểu cái hay, cái đẹp của thơ rồi truyền nó cho người đọc, người nghe; là cảm hiểu thơ bằng sức mạnh tổng hợp của vốn văn hóa, kinh nghiệm và trực cảm của người bình… Muốn gặt hái được một cách hiệu quả công việc phức tạp, tinh tế, lắm chuyện phiền ấy, người bình cần tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của bạn đọc, cần học tập và rèn luyện suốt đời… nhưng cái chính là phải sống bằng những tình cảm cao đẹp. Các nhà ngôn ngữ cũng đưa ra những quan niệm về thơ.
Phan Ngọc trong bài “Thơ là gì” quan niệm “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [64, tr. Nguyễn Hữu Đạt trong “Ngôn ngữ thơ Việt Nam” lại nêu quan niệm “Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” [21, tr. Như vậy, có thể khẳng định có rất nhiều các khái niệm về thơ. Mỗi tác giả đứng từ một góc nhìn khác nhau mà soi chiếu, cảm nhận, từ đó đưa ra những quan niệm thơ khác nhau.
Nhưng tựu chung lại là thơ được nhìn từ hai góc độ hình thức thơ và nội dung thơ. Có quan niệm thiên về hình thức, cho rằng hình thức là cái quan trọng của thơ. Nhưng cũng có quan niệm lại cho rằng thơ quan trọng là ý, là tứ, là nội dung. Phần lớn các quan niệm cho rằng thơ là sự tổng hòa cả nội dung và hình thức.
Không thể có một tác phẩm thơ hay khi chỉ chú trọng vào một trong hai mặt đó. Đây là quan niệm đúng đắn. Thơ hay phải hay cả nội dung và hình thức. Nội dung phải ẩn trong hình thức và hình thức phải thể hiện được nội dung.
Ngôn từ thơ 1. Ngôn từ - chất liệu duy nhất để xây dựng hình tượng của văn chương Theo Từ điển Tiếng Việt (2004), Hoàng Phê (chủ biên), “ngôn từ là ngôn ngữ được nói hay viết thành văn”. Có thể nói, tất cả các loại hình nghệ thuật, kể cả văn chương, đều thống nhất ở một điểm cơ bản là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Hình tượng của nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc là có tính chất tĩnh và chiếm một khoảng không gian nhất định; hình tượng của nghệ thuật âm nhạc, điện ảnh… có tính chất động và diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định… Hình tượng của các loại hình nghệ thuật khác nhau vừa có những điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt.
Sự khác nhau đó bởi chính là ở đặc trưng của chất liệu xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của chúng. Chất liệu màu sắc, đường nét của hội họa khác hẳn chất lượng âm thanh của âm nhạc, hình khối của điêu khắc. Chất liệu ngôn từ của hình tượng văn chương khác xa với màu sắc, âm thanh, đường nét, hình khối của các nghệ thuật kia. Ngôn từ là ngôn ngữ đã được nói hay viết thành văn là chất liệu cấu tạo nên các hình tượng văn chương.
Vì thế mà ngôn từ đã tạo nên những hình tượng trong văn học dân gian (văn nói) và trong văn học viết (văn viết). Tuy nhiên những hình tượng nghệ thuật do ngôn từ xây dựng nên trong từng thể loại văn học cũng có những nét riêng biệt. Bởi ngôn từ trong văn xuôi, ngôn từ thơ, ngôn từ kịch hay ngôn từ trong văn học dân gian cũng khác xa nhau do đặc trưng thể loại mang đến. Ngôn từ thơ đã qui định tính độc đáo và đặc biệt của văn chương.
Vì vậy, để tìm hiểu về văn chương nghệ thuật, không thể không tìm hiểu đặc trưng chất liệu đã tạo nên hình tượng văn chương. Phân biệt ngôn ngữ và ngôn từ Ngôn ngữ theo Từ điển Tiếng Việt (2004), Hoàng Phê (chủ biên), ngôn ngữ là: “1. Hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau; 2. Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo; 3.
Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng” [69, tr. Ngôn ngữ theo 777 khái niệm ngôn ngữ học (2010), Nguyễn Thiện Giáp lại định nghĩa: “Ngôn ngữ được dùng để chỉ phương tiện giao tiếp bằng lời của loài người” [37, tr. “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng, trừu tượng hóa khỏi bất kì một sự áp dụng cụ thể nào của chúng… Ngôn ngữ chính là hệ thống những yếu tố và nguyên tắc có giá trị chung, làm cơ sở để cấu tạo các lời nói” [37, tr. Như vậy, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, một sản phẩm tập thể được ra đời trong quá trình lao động sản xuất xã hội.
Nó cũng là hệ thống ký hiệu tồn tại trong ý thức của những người cùng một dân tộc. Ngôn ngữ là nguồn dự trữ các từ và nguyên tắc kết hợp, ngữ pháp, là một pho từ điển chung cho mọi người, mỗi cá nhân không thể sáng tạo ra ngôn ngữ. Lời nói là hình thức tồn tại thực tế của ngôn ngữ, là ngôn ngữ trong hành động, là bản thân quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người và người cụ thể, nảy sinh trong một hoàn cảnh cụ thể và bao giờ cũng biểu đạt những tư tưởng nhất định, mang màu sắc tình cảm và khuynh hướng tư tưởng nhất định. Lời bao gồm lời nói và lời viết, đồng nghĩa với hoạt động ngôn từ.
Như vậy, chất liệu xây dựng hình tượng văn chương không phải là ngôn ngữ mà là ngôn từ.