CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO LÃNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM. sẽ đưa ra những cái nhìn tổng quan nhất về khái niệm bảo lãnh ngân hàng nói chung và bảo lãnh xuất nhập khẩu nói riêng, đánh giá những thành tựu đã đạt được, phân tích khó khăn, nhược điểm còn tồn tại cũng như những Lª Thu Ph¬ng_A8 K38C 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NghiÖp vô b¶o l·nh xuÊt nhËp khÈu cña c¸c NHTM_Thùc tr¹ng, gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ë ViÖt Nam kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nghiêp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu trong thời gian tới. Nhân đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh, các chị tại Ngân hàng Ngoại hối Hàn Quốc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp cho em những nguồn tài liệu quý báu, đặc biệt, em xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Quy, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận này.
Do khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, khoá luận này chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của thầy cô và các bạn. Hà Nội, tháng 12 năm 2003 Lª Thu Ph¬ng_A8 K38C 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NghiÖp vô b¶o l·nh xuÊt nhËp khÈu cña c¸c NHTM_Thùc tr¹ng, gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ë ViÖt Nam PHẦN I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO LÃNH XNK CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG VÀ BẢO LÃNH XNK 1. Những vấn đề chung về bảo lãnh ngân hàng 1.
Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Từ thời kỳ trung cổ tại Hy Lạp, hoạt động bảo lãnh đã xuất hiện, mặc dù còn rất sơ khai, bằng những giao dịch trong quan hệ cá nhân với cá nhân rất đời thường. Cho đến nay, hoạt động bảo lãnh đã phát triển bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra cả phạm vi quốc tế. Bảo lãnh trong mỗi lĩnh vực có những đặc trưng riêng nhưng tựu chung lại “bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” (Điều 366 - Bộ luật Dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Bảo lãnh là cần thiết khi hai bên chưa tín nhiệm nhau.
Uy tín và lời hứa của bên này chưa có đủ độ tin cậy đối với bên kia. Sự xuất hiện của một bên thứ ba có đủ độ tin cậy đối với cả hai bên đứng ra thực hiện bảo lãnh sẽ đưa họ đến một điểm chung thống nhất. Trong phạm vi toàn xã hội, hoạt động bảo lãnh rất phong phú và đa dạng như bảo lãnh của một tổ chức quốc tế với một nước, bảo lãnh của nhà Lª Thu Ph¬ng_A8 K38C 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NghiÖp vô b¶o l·nh xuÊt nhËp khÈu cña c¸c NHTM_Thùc tr¹ng, gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ë ViÖt Nam nước đối với doanh nghiệp,. Xét riêng trong lĩnh vực ngân hàng, bảo lãnh là một nghiệp vụ được định nghĩa như sau : “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết của ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với bên nhận bảo lãnh đã được quy định tại chứng thư bảo lãnh của ngân hàng.” Hiện nay việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng bùng nổ mạnh mẽ và doanh số của nó đạt đến mức kỷ lục.
Sự tăng trưởng này một phần là vì bảo lãnh ngân hàng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ, bao gồm cả các dịch vụ không mang tính tài chính như hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng. và những dịch vụ mang tính tài chính như thoả ước thấu chi, thoả ước tham gia liên doanh, tái bảo hiểm và những cam kết tài chính khác. Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hành kinh doanh quốc tế, vấn đề thuật ngữ “bảo lãnh ngân hàng” vẫn còn bỏ ngỏ. Những từ như “bond”, “guarantee”, “suretyship” và cả “undertaking” được dùng lẫn cho nhau với nghĩa bảo lãnh ngân hàng, và cho đến nay vẫn chưa có một thoả ước thống nhất quốc tế nào khẳng định đâu là thuật ngữ chuẩn.
Điều này cho thấy tính chất lỏng lẻo trong việc sử dụng thuật ngữ để khẳng định bản chất một cam kết bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động XNK. Bảo lãnh nói chung và cơ bản được NHTM phát hành, do vậy người ta thường gọi “bảo lãnh’’ là “Bank guarantee”. Tuy nhiên, luật và tập quán của từng nước có những khác biệt. Đặc điểm của bão lãnh 1.
Tính chất độc lập Lª Thu Ph¬ng_A8 K38C 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NghiÖp vô b¶o l·nh xuÊt nhËp khÈu cña c¸c NHTM_Thùc tr¹ng, gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ë ViÖt Nam Bảo lãnh được coi là công cụ vạn năng sử dụng trong tất cả các giao dịch vì nó có đặc điểm nổi bật, đó là tính độc lập về nghiệp vụ và quyền lợi của các bên và mối quan hệ của các đối tác. - Độc lập trong từng mối quan hệ Các hợp đồng được hình thành trong mối quan hệ được chi phối bởi mục đích và đối tượng nên hai bên trong từng hợp đồng có quyền và nghĩa vụ riêng; mặc dù chúng vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của nhau. Hợp đồng thứ nhất (giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh) là gốc để hình thành hợp đồng thứ hai (giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người được bảo lãnh) và hợp đồng thứ ba (giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh) nhưng các hợp đồng sau ra đời nhằm phục vụ cho hợp đồng thứ nhất. Hợp đồng này sẽ không được thực hiện đầy đủ nếu các hợp đồng còn lại không có hiệu lực.
Mối quan hệ này là lô- gích nhưng không có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của các bên trong từng hợp đồng lại ràng buộc hay phụ thuộc lẫn nhau - Độc lập về quyền và nghĩa vụ Sự phân biệt này chỉ mang nghĩa tương đối. Tính độc lập này được thể hiện rất rõ qua những trích dẫn cam kết của ngân hàng trong các giao dịch bảo lãnh. Người bảo lãnh thực hiện cam kết của mình căn cứ duy nhất vào thực tế là người thụ hưởng có thoả mãn đầy đủ những quy định của bảo lãnh hay không. Người hưởng được quyền đòi tiền dựa vào các điều kiện của bảo lãnh mà không bị ngăn cản bởi bất cứ người nào khác - Tính độc lập tương đối Nghĩa vụ của ngân hàng phải thanh toán cho người hưởng khi nhận được đòi tiền kèm các chứng từ theo đúng các điều khoản của bảo lãnh.
Vấn đề là ở chỗ các chứng từ gì và những điều khoản nào? Đây là điểm mấu chốt trong việc quy định mức độ độc lập của giao dịch bảo lãnh. Nếu Lª Thu Ph¬ng_A8 K38C 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NghiÖp vô b¶o l·nh xuÊt nhËp khÈu cña c¸c NHTM_Thùc tr¹ng, gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ë ViÖt Nam hai bên trong hợp đồng cơ sở thoả thuận chứng từ xuất trình và điều kiện đòi tiền được lập bằng chính người hưởng: tuyên bố vi phạm (Statement of default), thì sự độc lập này gần như tuyệt đối vì nó không có yếu tố thứ ba trong giao dịch. Ngược lại, nếu bảo lãnh quy định xuất trình chứng từ của phía thứ ba như chứng thực của cơ quan độc lập về sự vi phạm của đối tác, quyết định của trọng tài, thậm chí phán quyết của toà án, thì tính độc lập của giao dịch bảo lãnh bị điều chỉnh. Theo quan điểm của các ngân hàng thì tính độc lập của bảo lãnh mang lại nhiều thuận lợi, do ngân hàng chỉ việc xem xét sự phù hợp của các chứng từ với các điều khoản và điều kiện của bảo lãnh khi có yêu cầu thanh toán.
Bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau Khi đồng ý bảo lãnh, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là một hợp đồng giữa hai bên thường là ngân hàng và người thụ hưởng. Hợp đồng này độc lập trong mối quan hệ với hợp đồng cơ sở. Tuy nhiên để hiểu cơ chế của công cụ này cần thiết phải hiểu rằng giao dịch bảo lãnh liên quan đến mối quan hệ của ba hợp đồng.
Nó không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà là một quan hệ tạo thành trong mối quan hệ nhiều bên bao gồm: Mối quan hệ cơ sở: là mối quan hệ giữa người uỷ nhiệm và người thụ hưởng bảo lãnh, đây là gốc để hình thành những mối quan hệ khác. Mối quan hệ này được thể hiện bằng Hợp đồng với các điều khoản về giao dịch cơ sở. Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của mình, một bên hợp đồng phải có được bảo lãnh từ ngân hàng cấp cho đối tác. Mối quan hệ uỷ thác: tuỳ từng chủ thể trong giao dịch mà có các mối quan hệ uỷ thác khác nhau.
Lª Thu Ph¬ng_A8 K38C 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NghiÖp vô b¶o l·nh xuÊt nhËp khÈu cña c¸c NHTM_Thùc tr¹ng, gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ë ViÖt Nam - Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh với ngân hàng đại lý của nó hoặc với ngân hàng do người thụ hưởng chỉ định trong việc thực hiện thông báo bảo lãnh tới người thụ hưởng. Mối quan hệ bảo lãnh cũng được xác lập với từng đối tượng chủ thể khác nhau. - Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh, nếu như người thụ hưởng không thực hiện đúng các điều kiện thanh toán thì ngân hàng được quyền từ chối. Ngược lại, ngân hàng phải chuyển trả tiền theo chỉ thị của người thụ hưởng.
- Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với ngân hàng xác nhận, ngân hàng thanh toán (trong bảo lãnh đối ứng). - Mối quan hệ giữa người thụ hưởng với ngân hàng xác nhận, ngân hàng thanh toán. Các mối quan hệ trên hình thành nên giao dịch bảo lãnh. Chúng độc lập với nhau nhưng lại có mối liên quan mật thiết và tác động qua lại.