CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài. Tình huống và tình huống dạy học 1. Tình huống Xét về mặt tâm lý học: "Tình huống là một hệ thống những điều kiện bên trong quan hệ với chủ thể, những điều kiện này tác động một cách gián tiếp lên tính tích cực của chủ thể đó".
Nói một cách khái quát hơn, “Tình huống là toàn thể sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ hành động, đối phó, chịu đựng’’[9],[ 33]. Người ta phân biệt tình huống làm hai dạng chính [34]: Tình huống đã xảy ra, đây là những tình huống đã xảy ra và được tích luỹ lại trong vốn tri thức của loài người. Tình huống sẽ xảy ra (dự đoán), đây là những tình huống mà con người dự đoán xảy ra trong tương lai. Tình huống dạy học: Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xã hội cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà học sinh đã trở thành chủ thể hoạt động với đối tượng nhận thức trong một trường dạy học nhằm một mục đích dạy học cụ thể.
Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy học chính là trạng thái bên trong được sinh ra do sự tương tác giữa chủ thể với đối tượng nhận thức. Theo lý luận dạy học Xô Viết, tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc, là tế bào của bài lên lớp, bao gồm tổ hợp những điều kiện cần thiết. Đó là mục đích dạy học, nội dung dạy học và phương pháp dạy học để thu được những kết quả hạn chế, riêng biệt [9]. Nguyễn Ngọc Quang còn đưa ra một cách tiếp cận mới của tình huống dạy học đó là tình huống mô phỏng hành vi.
Mô phỏng hành vi là bắt chước, sao chép, phỏng theo quá trình hành vi của con người, sự tương tác riêng cá nhân của người đó, nhằm đạt mục đích nào đó. Quá trình hành vi của con người trong tình huống thực, cụ thể được xử lý sư phạm bằng mô hình hoá tạo nên tổ hợp các tình huống mô phỏng, là một mô hình của tình huống thực tiễn. Dùng tình huống mô phỏng này trong tổ chức dạy học nó trở thành tình huống dạy học. Thực chất đó là quy trình chuyển tình huống mô phỏng thành tình huống dạy học [9],[25].
Tóm lại, bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp, chứa đựng mối liên hệ mục đích - nội dung - phương pháp theo chiều ngang tại một thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức. Bài tập tình huống dạy học Bài tập tình huống là những hệ thống đã, đang và có thể xảy ra được cấu trúc lại dưới dạng bài tập, là một cấu trúc ngôn ngữ mô hình hoá yêu cầu về kĩ thuật, biện pháp, phương pháp dạy học mà yêu cầu đó đang tiềm ẩn chưa được bộc lộ trước người dạy không có kinh nghiệm. Mô hình này có khả năng thức tỉnh nhu cầu phân tích những khía cạnh có liên quan đến mô hình để có định hướng đáp ứng yêu cầu. Khi giải bài tập tình huống thì không những giúp học sinh khắc sâu kiến thức mà còn rèn luyện các kỹ năng để vận dụng trong thực tiễn cuộc sống [8],[9].
Thực hành, thí nghiệm 1. Phân biệt thực hành, thí nghiệm * Thực hành: Thực hành là phương pháp đặc trưng trong dạy học, nghiên cứu Sinh học và Kỉ thuật nông nghiệp. Trong dạy học Sinh học, phương pháp thực hành có tác dụng giáo dục, rèn luyện học sinh một cách toàn diện, đáp ứng được nhiệm vụ trí dục – đức dục tốt nhất, vì: - Thực hành có liên quan đến nhiều giác quan, do đó bắt buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi nhiều hơn nên tư duy sáng tạo có điều kiện phát triển hơn. - Thực hành là phương pháp có ưu thế nhất để rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo ứng dụng tri thức vào đời sống, đặc biệt nó là phương pháp chủ đạo trong dạy học kỉ thuật nông nghiệp.
Tóm lại, thực hành có điều kiện nhất để thực hiện nguyên lí giáo dục gắn lí thuyết với thực tiễn, đáp ứng các yêu cầu của giáo dục. - Thực hành là nơi tập dượt cho học sinh các phương pháp nghiên cứu Sinh học như quan sát, thực nghiệm… - Qua thực hành, học sinh có điều kiện tự tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc với chức năng, giữa bản chất và hiện tượng, giữa nguyên nhân và kết quả, do đó các em nắm vững tri thức và thiết lập được lòng tin tự giác, sâu sắc hơn [1]. * Thí nghiệm: - Thí nghiệm được hiểu là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện nhất định để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh. - Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh.
Các hiện tượng sinh học có thể mô phỏng lại dưới dạng các thí nghiệm. - Thí nghiệm do giáo viên tiến hành và học sinh quan sát hoặc do học sinh tự tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên từ đó các em sẽ tìm hiểu cấu tạo trong mối quan hệ với chức năng, tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng, các quá trình sinh học, đồng thời giúp các em khắc sâu kiến thức đã lĩnh hội. Thí nghiệm do giáo viên biểu diễn phải là mẫu mực về thao tác để qua đó học sinh học tập, bắt chước, dần dần, khi học sinh tiến hành được thí nghiệm, học sinh sẽ rèn luyện được kĩ năng thực hành thí nghiệm. - Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, vì vậy nó là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật.
Qua quá trình tiến hành thí nghiệm, học sinh sẽ có cơ hội hiện thực hóa các kiến thức lí thuyết đã học, làm cho các kiến thức đó trở nên gần gũi với thực tiễn. Trong các hoạt động thực hành, có sự tham gia của nhiều cơ quan cảm giác, đồng thời học sinh phải động não suy nghĩ, tìm tòi nên phát triển được tư duy sáng tạo. Đồng thời do những yêu cầu chặt chẽ khi tiến hành các thí nghiệm đã giúp cho học sinh được những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, hình thành và phát triển ở các em thao tác tư duy kĩ thuật. - Thí nghiệm có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của HS với các mức độ tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau: thông báo, tái hiện (bắt chước), tìm tòi bộ phận, nghiên cứu.
Vì vậy thí nghiệm được xem là một trong những phương tiện trực quan quan trọng hàng đầu trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng, đặc biệt là trong giảng dạy các bài thực hành Sinh học. * Thực hành quan sát Thực hành quan sát là dùng các giác quan tri giác trực tiếp, có mục đích đến các đối tượng, hiện tượng tự nhiên [1] Các bước tổ chức thực hành quan sát: Xác định rõ mục đích yêu cầu, nhiệm vụ quan sát của HS. GV hướng dẫn tổ chức quan sát, trình tự các công đoạn TH quan sát. Phân phát mẫu vật HS tự làm, quan sát và ghi chép.
Làm tường trình, rút ra kết luận khái quát hoặc trả lời các câu hỏi do GV đặt ra * Thực hành thí nghiệm Thực hành thí nghiệm được hiểu là tiến hành các thí nghiệm trong các bài thực hành, được HS thực hiện để hiểu rõ được mục đích thí nghiệm, điều kiện thí nghiệm. Qua tiến hành và quan sát thí nghiệm tại phòng thực hành, HS xác định được bản chất của hiện tượng, quá trình [1], [16]. Trong dạy học SH, GV sử dụng phương pháp này khi nghiên cứu quá trình sinh lý, ảnh hưởng các nhân tố sinh thái lên sinh vật. HS tự mình khám phá ra những điều mới mẻ từ những tác động chủ ý của các em lên đối tượng thí nghiệm, qua đó kích thích hứng thú học tập, tạo sự say mê, niềm tin yêu khoa học.
Các em thấy được vai trò của con người trong việc chinh phục cải tạo tự nhiên. Phân loại thực hành * Theo đối tượng thực hành - TH quan sát, nhận biết, sưu tập các mẫu vật. - TH quan sát trên các tiêu bản hiển vi. - TH nuôi, trồng, thí nghiệm các động vật, thực vật.
- TH các thí nghiệm dài ngày ở nhà, trong phòng thí nghiệm * Theo địa điểm thực hành - TH trên lớp - TH trong phòng thí nghiệm * Theo thời gian cho kết quả thực hành - TH ngắn hạn - TH dài hạn. * Theo phương pháp dạy học thực hành - TH quan sát - TH thí nghiệm 1. Yêu cầu của dạy học thực hành. Dạy thực hành, mục đích chính là rèn các kỹ năng thao tác chân tay, các đức tính kiên nhẫn, biết chấp nhận thử thách và tự tìm cách vượt qua các thách thức để đạt được mục tiêu của mình.
Vì vậy học sinh phải tự mình làm thí nghiệm cho dù các thao tác ban đầu còn vụng về và có thể thất bại. Như vậy, nếu quan niệm thực hành chỉ là minh họa, trình diễn để học sinh xem thì việc tổ chức cho cả lớp học sinh vào một phòng thí nghiệm làm cùng lúc là được nhưng học sinh không thể hình thành được kỹ năng cũng như rèn luyện được những đức tính cần thiết của người làm khoa học. Còn nếu để học sinh tự làm thì lại phải chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (tối đa khoảng 10 em) thì các em mới có thể tự làm thí nghiệm được và học sinh chỉ hình thành được kỹ năng khi được làm đi làm lại nhiều lần một kỹ năng nhất định. Đối với giáo viên khi dạy các bài thực hành cần: - Xác định rõ mục đích tiết thực hành về một nội dung cụ thể nào đó.
- Hướng dẫn trình tự các bước của công tác thực hành. - Tiến hành tổ chức lớp phải chu đáo, tỉ mỉ để trong suốt quá trình thực hành mọi HS luôn có việc làm. - Nghiên cứu kỹ nội dung và tiến hành trước công việc thực hành để bảo đảm thành công khi hướng dẫn cho học sinh. - Phải dành thời gian nhận xét, đánh giá kết quả thực hành của học sinh [2].
Quy trình dạy học bài thực hành Quy trình cho một bài thí nghiệm có thể gồm các bước như sau [2]: - Chuẩn bị thí nghiệm: Giáo viên phải có kế hoạch đảm bảo chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất, mẫu vật và các điều kiện cần thiết khác để thí nghiệm thành công.