Đặt vấn đề Chăn nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi ngƣời dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập của hàng triệu ngƣời dân hiện nay. Chăn nuôi lợn không chỉ cung cấp phần lớn thịt mà còn là nguồn cung cấp phân hữu cơ cho cây trồng, tận dụng thức ăn và thu hút lao động dƣ thừa trong nông nghiệp. Trong những năm gần đây đời sống của nhân dân ta không ngừng đƣợc cải thiện và nâng cao, nhu cầu tiêu thụ thịt trong đó chủ yếu là thịt lợn ngày một tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng đã thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn bƣớc sang bƣớc phát triển mới. Tuy nhiên, việc phát triển các trang trại chăn nuôi với quy mô ngày càng tăng kéo theo những vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, trong đó phân và nƣớc thải từ các trang trại chính là nguồn gây ô nhiễm lớn, ảnh hƣởng tới sức khỏe của ngƣời và vật nuôi nếu nhƣ không có biện pháp xử lý.
Chất thải từ chăn nuôi do không đƣợc xử lý hay xử lý không triệt để đã làm ô nhiễm môi trƣờng không khí, đất và nguồn nƣớc. Từ nguồn ô nhiễm này đã ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe con ngƣời gây nên các bệnh về đƣờng hô hấp và đƣờng tiêu hoá, bệnh về da, ngứa mắt, viêm gan, ảnh hƣởng đến sức khoẻ, đời sống của con ngƣời. Không chỉ làm ô nhiễm môi trƣờng xung quanh, chất thải của vật nuôi không đƣợc xử lý còn đe dọa sự phát triển bền vững và ổn định của chính những trang trại này. Ở các nƣớc có nền chăn nuôi công nghiệp phát triển mạnh nhƣ Hà Lan, Anh, Mỹ, Hàn Quốc thì đây là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất.
Ở Việt Nam, khía cạnh môi trƣờng của ngành chăn nuôi chỉ đƣợc quan tâm trong vài năm trở lại đây khi tốc độ phát triển chăn nuôi ngày càng tăng, lƣợng chất thải do chăn nuôi đƣa vào môi trƣờng ngày càng nhiều. Theo báo cáo tổng kết của Viện chăn nuôi [17], hầu hết các hộ chăn nuôi đều n 2 để nƣớc thải chảy tự do ra môi trƣờng xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là vào những ngày oi bức; Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần; Tổng số vi sinh vật và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần. Đến nay phần lớn trang trại chăn nuôi lợn đã có hệ thống xử lý nƣớc thải đơn giản (hầm biogas) nhƣng hầu hết đều không đạt tiêu chuẩn thải. Tùy thuộc vào loại hình chăn nuôi mà số lƣợng và đặc tính các chất thải có khác nhau, loại hình trang trại gây ô nhiễm lớn nhất đƣợc đánh giá là các trang trại chăn nuôi lợn do sử dụng nƣớc thƣờng xuyên để vệ sinh chuồng trại, trung bình là từ 8 - 10 m3/ngày/trang trại 2000 con.
Nƣớc thải có hàm lƣợng chất hữu cơ cao, giàu nitơ (COD = 600 -1700 mg/l, BOD5 = 500-1500 mg/l) và có chứa lƣợng vi khuẩn gây bệnh lớn nhƣ E. Bên cạnh đó, lƣợng chất thải rắn phát sinh trong chăn nuôi cũng rất lớn, trung bình từ 5-18 tấn/năm tùy thuộc vào từng loại hình chăn nuôi, chủ yếu là phân vật nuôi và chất độn. Việc lựa chọn công nghệ xử lý nƣớc thải hậu biogas chi phí thấp phù hợp với điều kiện nông thôn là rất cần thiết. Đó chính là lý do tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi sau bể biogas bằng thực vật thủy sinh tại phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên” nhằm đảm bảo nƣớc thải sau xử lý đạt quy chuẩn nƣớc thải Việt Nam, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng xung quanh.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Ứng dụng xử lý nƣớc thải chăn nuôi bằng thủy sinh vật nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nƣớc thải bằng công nghệ rẻ tiền, có chi phí thấp, phù hợp với điều kiện Việt Nam, đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng và cho phép tái sử dụng nƣớc thải sau xử lý trong nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá chất lƣợng nƣớc thải chăn nuôi sau bể biogas n 3 - Ứng dụng thực vật thủy sinh để xử lý nƣớc thải chăn nuôi. - Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng của thực vật thủy sinh trong nƣớc thải chăn nuôi sau bể biogas.
- Đánh giá đƣợc hiệu quả xử lý nƣớc thải của thực vật thủy sinh. - Xác định ngƣỡng nồng độ thích hợp của các cây trồng tham gia thí nghiệm. Yêu cầu của đề tài - Nắm chắc phƣơng pháp lấy mẫu nƣớc thải. - Nắm chắc quy trình làm thí nghiệm với thực vật thủy sinh.
- Nắm chắc phƣơng pháp phân tích số liệu để đánh giá khả năng xử lý nƣớc thải chăn nuôi sau bể biogas của thực vật thủy sinh thông qua khả năng xử lý nƣớc thải sau 2 tuần và 4 tuần của các chỉ tiêu: PH, DO, COD, BOD5, TSS, Cl-, NO3-, Tổng P. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ xác định đƣợc khả năng xử lý nƣớc thải chăn nuôi của một số thực vật thủy sinh tham gia thí nghiệm. Ý nghĩa thực tiễn Ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm, nƣớc mặt từ chăn nuôi, giúp cho chăn nuôi ngày càng phát triển hơn.
Đây là một giải pháp công nghệ xử lý nƣớc thải trong điều kiện tự nhiên, thân thiện với môi trƣờng, đạt hiệu suất cao, chi phí thấp và ổn định, đồng thời góp phần đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng và cho phép tái sử dụng nƣớc thải sau xử lý trong nông nghiệp. n 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học 1. Khái niệm về môi trường Theo Khoản 1 Điều 3 luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2005, môi trƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: " Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật".
Khái niệm ô nhiễm môi trường nước và nước thải - Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: "Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi theo chiều xấu đi và các tính chất vật lý- hóa học- sinh học của nƣớc, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nƣớc trở nên độc hại với con ngƣời và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nƣớc. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hƣởng thì ô nhiễm nƣớc là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất".[5] - Khái niệm về nƣớc thải: Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nƣớc thải là nƣớc đƣợc thải ra sau khi đã sử dụng hoặc đƣợc tạo ra qua một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó. Cơ sở pháp lý Công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng phải đƣợc dựa trên các văn bản pháp luật, pháp quy của các cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Từ năm 1993 đến nay đã có các văn bản hành chính sau trong lĩnh vực quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng (BVMT): - Thông tƣ liên tịch số 69/2000/TTLT- BNN - TCTK ngày 26/3/2000 của Bộ Nông Nghiệp và Tổng Cục Thống Kê. Quy định về chỉ tiêu đánh giá qui mô một số trạng thái chăn nuôi. n 5 - Nghị định 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ và các Thông tƣ hƣớng dẫn về thu phí bảo vệ môi trƣờng đối với nƣớc thải. - Nghị quyết số 41/NQ - TW của Bộ Chính trị về Bảo vệ Môi trƣờng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
- Luật Bảo vệ Môi trƣờng số 55/2014/QH13;do Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày ngày 01/1/2015. - Luật Tài nguyên nƣớc số 17/2012/QH 13 do Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày ngày 21/6/2012. - Nghị định 19/2015/NĐ - CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trƣờng. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
- Nghị quyết liên tịch số 01/2005 NQLT - HPN - BTNMT ngày 07/01/2005 về việc phối hợp hành động bảo vệ môi trƣờng phục vụ phát triển bền vững. - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. - Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nƣớc và xử lý nƣớc thải đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trên phạm vi cả nƣớc. - Quyết định số 22/2006/QĐ - BTNMT Về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trƣờng.
- Thông tƣ số 07/2007/TT - BTNMT ngày 03 tháng 07 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng hƣớng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng cần phải xử lý. - QCVN 08: 2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lƣợng nƣớc mặt. - Quy chuẩn Việt Nam QCVN 40: 2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nƣớc thải sinh hoạt. n 6 - QCVN 62-MT:2016/BTNMT do Tổ soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi biên soạn, Tổng cục Môi trƣờng, Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế trình duyệt và đƣợc ban hành theo Thông tƣ số 04/2016/TT-BTNMT ngày 29 tháng 4 năm 2016 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng.
Cơ sở thực tiễn 1. Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam 1. Hiện trạng chăn nuôi lợn Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lƣơng Thế giới (FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Chăn nuôi Việt Nam, giống nhƣ các nƣớc trong khu vực phải duy trì mức tăng trƣởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và từng bƣớc hƣớng tới xuất khẩu.
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nƣớc ta phát triển với tốc độ nhanh (Bình quân giai đoạn 2001-2006 đạt 8,9%).[2] Trong những năm gần đây xu hƣớng chăn nuôi nhỏ lẻ đã giảm đi đáng kể. Tỷ lệ số hộ nuôi 1 con lợn giảm đi rõ rệt. Quy mô phát triển chăn nuôi của các hộ đã lớn hơn nhƣng vẫn còn nhỏ, tính chuyên môn hoá chƣa cao. Trong xu thế chuyên môn hóa sản xuất, hình thức chăn nuôi tập trung ngày càng phổ biến ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trên thế giới.
Hiện nay, số lƣợng trại chăn nuôi quy mô lớn ngày càng tăng. Các trại chăn nuôi lợn tập trung có trên 400 - 500 đầu lợn có mặt thƣờng xuyên trong chuồng nuôi.