Tài liệu: Nghiên cứu xu hướng du lịch của thế hệ younger millennials tại

Khám phá xu hướng du lịch của thế hệ younger millennials Việt Nam. Phân tích hành vi, sở thích và động lực du lịch của nhóm khách hàng tiềm năng.

Trường đại học

Trường Đại học Thăng Long

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

63
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Đặc Điểm của Thế Hệ Younger Millennials

Thế hệ Younger Millennials (còn gọi là thế hệ Y) là nhóm người sinh từ những năm 1980-2000, đặc biệt tập trung vào những cá nhân sinh từ 1990 trở đi. Đây là thế hệ du lịch hiện đại có những đặc điểm rất riêng biệt so với các thế hệ trước. Thế hệ này lớn lên cùng với sự phát triển của công nghệ số và internet, do đó họ rất thành thạo trong việc sử dụng các ứng dụng công nghệ để tìm kiếm thông tin du lịch. Thế hệ Y không chỉ tìm kiếm những chuyến du lịch đơn thuần mà còn muốn trải nghiệm thực tế sâu sắc, khám phá những địa điểm mới lạ và tương tác với nền văn hóa địa phương. Họ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho các hoạt động du lịch và lựa chọn những hình thức du lịch linh hoạt, cá nhân hóa hơn so với các tour du lịch truyền thống.

1.1. Đặc Điểm Nổi Bật của Thế Hệ Y

Thế hệ Y sở hữu tính cách độc lập cao, yêu thích tự do lựa chọntự chủ trong quyết định. Họ không tuân theo những lộ trình du lịch cố định mà thích tạo ra những chuyến đi theo ý muốn của bản thân. Thế hệ này rất quan tâm đến trải nghiệm cá nhân, muốn ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt thông qua ảnh, video và chia sẻ trên các nền tảng mạng xã hội như Instagram, Facebook, TikTok.

1.2. Phân Biệt với Các Thế Hệ Khác

Khác với thế hệ X (born 1960s-1980) đề cao sự ổn định và tiết kiệm, thế hệ Y du lịch ưu tiên việc sáng tạo trải nghiệm và khám phá. So với thế hệ Z (sinh sau 2000), thế hệ Y có sự cân bằng hơn giữa công nghệ và tương tác trực tiếp. Điều này làm cho thế hệ Y trở thành nhóm khách du lịch tiềm năng lớn nhất trong thị trường du lịch hiện nay.

II. Xu Hướng Du Lịch Chính của Thế Hệ Younger Millennials

Xu hướng du lịch của thế hệ Y tại Việt Nam phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ trong cách thức lựa chọn và trải nghiệm du lịch. Thứ nhất, họ yêu thích du lịch trải nghiệm thực tế hơn là du lịch quan sát tiêu thụ. Thứ hai, ứng dụng công nghệ trong chuyến đi trở thành yếu tố quan trọng, từ việc đặt phòng qua ứng dụng, thanh toán qua điện thoại đến sử dụng GPS và các ứng dụng khám phá địa điểm. Thứ ba, du lịch ẩm thực - khám phá những món ăn đặc sắc địa phương - được xem là một phần không thể thiếu của chuyến đi. Thứ tư, du lịch ngắn ngày ngày càng phổ biến do áp lực công việc và thời gian rảnh hạn chế. Cuối cùng, du lịch bền vững và bảo vệ môi trường là một xu hướng du lịch xanh đáng chú ý mà thế hệ Y ngày càng quan tâm.

2.1. Xu Hướng Trải Nghiệm và Công Nghệ

Thế hệ Y không chỉ muốn tham quan địa điểm du lịch mà còn muốn tương tác sâu với địa phương. Họ sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm thông tin từ những người có ảnh hưởng (influencer), tham khảo review từ các du khách khác. Công nghệ du lịch giúp họ dễ dàng so sánh giá, đặt chỗ ở và tối ưu hóa chi phí cho chuyến đi.

2.2. Du Lịch Ẩm Thực và Du Lịch Xanh

Du lịch ẩm thực là một trong những xu hướng du lịch nổi bật, với thế hệ Y tìm kiếm những trải nghiệm ẩm thực độc đáo từ các nhà hàng địa phương và những quán ăn vỉa hè tính cách. Song song đó, du lịch bền vững thể hiện trách nhiệm xã hội của thế hệ Y với bảo vệ môi trường trong các chuyến du lịch.

III. Tác Động của Thế Hệ Younger Millennials đến Ngành Du Lịch Việt Nam

Thế hệ Y du lịch đang tạo ra tác động kinh tế đáng kể đối với ngành du lịch Việt Nam. Theo các nghiên cứu từ Trường Đại học Thăng Long, nhóm khách du lịch này chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lượt du khách, đặc biệt là du khách nội địa. Thế hệ này có khả năng chi tiêu cao cho các hoạt động du lịch, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch trải nghiệm độc đáo, du lịch mạo hiểmdu lịch sinh thái. Sự xu hướng du lịch cá nhân hóa của thế hệ Y đã buộc các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam phải đổi mới mô hình kinh doanh, từ các tour du lịch truyền thống sang những gói du lịch linh hoạt và tùy chọn. Điều này mang lại cả cơ hội để các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm du lịch mới, nhưng cũng đặt ra thách thức về cách thức phục vụ khách hàng một cách hiệu quả và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao.

3.1. Cơ Hội Phát Triển Cho Doanh Nghiệp Du Lịch

Doanh nghiệp du lịch Việt Nam có cơ hội tạo ra những sản phẩm du lịch mới phù hợp với nhu cầu du lịch của thế hệ Y. Từ những tour du lịch trải nghiệm đến du lịch có mục đích xã hội, các doanh nghiệp có thể khai thác tiềm năng khách hàng lớn này. Số lượng khách du lịch nội địa từ thế hệ Y ngày càng tăng, tạo nên một thị trường du lịch rất tiềm năng và lợi nhuận.

3.2. Thách Thức và Yêu Cầu Thích Ứng

Thách thức chính là cạnh tranh gay gắt khi thế hệ Y dễ dàng so sánh giá và chất lượng qua ứng dụng công nghệ. Doanh nghiệp lữ hành cần cải thiện chất lượng dịch vụ du lịch, tạo trải nghiệm độc đáotối ưu hóa chi phí để thu hút khách du lịch từ thế hệ Y.

IV. Giải Pháp và Khuyến Nghị cho Doanh Nghiệp Du Lịch

Để tăng cường hiệu quả kinh doanhphục vụ khách hàng thế hệ Y, doanh nghiệp lữ hành Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp du lịch cơ bản. Thứ nhất, các doanh nghiệp phải nâng cao ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực du lịch, từ website, ứng dụng di động đến hệ thống thanh toán trực tuyến. Thứ hai, cần phát triển các sản phẩm du lịch theo hướng linh hoạt và cá nhân hóa, cho phép khách hàng lựa chọn tùy chọn trong chuyến đi. Thứ ba, đầu tư vào đào tạo nhân viên để cải thiện chất lượng dịch vụ du lịchhiểu rõ nhu cầu khách hàng. Thứ tư, tiếp cận với mạng xã hội để tiếp thị du lịch một cách hiệu quả hơn, hợp tác với các influencer du lịch để quảng bá sản phẩm du lịch. Cuối cùng, các doanh nghiệp cần chú trọng đến du lịch bền vữngbảo vệ môi trường, tạo ra những tour du lịch xanh phù hợp với xu hướng du lịch hiện đại của thế hệ Y.

4.1. Chiến Lược Số Hóa và Đổi Mới Sản Phẩm

Doanh nghiệp du lịch nên đầu tư vào công nghệ du lịch như hệ thống đặt phòng trực tuyến, ứng dụng du lịchthanh toán di động. Sản phẩm du lịch mới cần phải linh hoạt, dễ tùy chỉnhđáp ứng nhu cầu cá nhân của khách du lịch. Việc tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng qua công nghệ là chìa khóa để thu hút và giữ chân khách hàng.

4.2. Tiếp Thị Du Lịch Qua Mạng Xã Hội và Du Lịch Bền Vững

Các doanh nghiệp lữ hành cần xây dựng chiến lược marketing trên nền tảng mạng xã hội như Instagram, TikTok để tiếp cận khách du lịch thế hệ Y. Hợp tác với influencer du lịch giúp tăng cường độ tin cậynhận diện thương hiệu. Đồng thời, du lịch xanhtrách nhiệm xã hội nên trở thành giá trị cốt lõi trong các sản phẩm du lịch của doanh nghiệp.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân loại khách du lịch Chương 2: Một số nghiên cứu về du lịch của thế hệ Gen Y tại Việt Nam Chương 3: Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có thể thực thi nhằm phát triển du lịch Việt Nam ở thế hệ Gen Y. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN LOẠI KHÁCH DU LỊCH 1. Khái niệm về du lịch Cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm du lịch được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ xem xét. Hunziker và Kraff ( Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến.

Theo Guer Freuler, du lịch là một hiện tượng thời đại của chúng ta dựa trên sự tăng trưởng của nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên. Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhắm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế.Coltman, du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và công đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch. Theo quan điểm của Robert W.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch. Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch bao gồm: 1) Khách du lịch; 2) Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; 3) Chính quyền sở tại; 4) Cộng đồng dân cư địa phương.

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi 4 Thang Long University Library cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ. Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.

Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch. Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng them tình yêu đất nước, đối với người ngước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể voi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế. Luật Du lịch Việt Nam 2017 đã nêu khái niệm về du lịch như sau: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Khái niệm về khách du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, khách du lịch là những người có các đặc trưng sau: - Là người đi khỏi nơi cư trú của mình; - Không theo đuổi mục đích kinh tế; - Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên; - Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tùy quan niệm của từng nước. Tại các nước đều có các định nghĩa riêng về khách du lịch. Tuy nhiên, điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù 5 lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm. Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục tiêu như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình.

Theo Luật Du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Khách du lịch quốc tế ( International Tourist) Năm 1937, Ủy ban thống kê của Hội Quốc Liên ( tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đã đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau : Khách du lịch quốc tế là những người thăm viếng một quốc giá ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ. Theo khái niệm nêu trên, xét về mặt thời gian, khách du lịch quốc tế là những người có thời gian viếng thăm ( lưu lại) ở quốc gia khác ít nhất là 24 giờ.

Trên thực tế, những người đến một quốc gia khác có lưu trú qua đêm mặc dù chưa đủ thời gian 24 giờ vẫn được thống kê là khách du lịch quốc tế. Bên cạnh khách đi du lịch có lưu trú quá đêm, có nhóm khách chỉ đi du lịch trong ngày. Đối tượng này được gọi là khách tham quan. Khách tham quan( Excursionist, Day – visitor) : Những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến ; có thời gian lưu lại ở nơi đến không quá 24 giờ, không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm.

Để thống nhất hai khái niệm “khách du lịch” và “khách tham quan”, năm 1973 tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về Du lịch được tổ chức ở Roma (Ý), Ủy ban thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra một khái niệm về Khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một số nước khác ngoài nước cư trú của mình với bất kỳ lý do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm. Những khái niệm trên khá rõ ràng và chi tiết nhưng vẫn chưa xác định giới hạn về thời gian lưu lại của khách du lịch tại các điểm đến. Năm 1989, tại Hội nghị liên minh 6 Thang Long University Library Quốc hội về du lịch được tổ chức ở Lahaye ( Hà Lan) đã ra “Tuyên bố Lahaye về du lịch”, trong đó đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là những người: - Trên đường đi thăm một hoặc một số nước, khác với nước mà họ cư trú thường xuyên; - Mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi không quá thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn; - Không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại; - Sau khi kết thúc đợt tham quan (hay lưu trú) phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác. Hiện nay trên thế giới, nhiều nước sử dụng khái niệm này.

Như vậy, có thể hiểu: Khách du lịch quốc tế là khách du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch thuộc phạm vi lãnh thổ của hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau. Luật Du lịch Việt Nam đã khái niệm khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Như vậy, nhóm khách du lịch quốc tế được phân thành 2 loại: Khách du lịch quốc tế đi vào ( Inbound tourist): là người nước ngoài và người của một quốc gia nào đó định cư ở nước khác vào quốc gia đó đi du lịch. Loại khách này sử dụng ngoại tệ để mua hàng hóa dịch vụ.

Thí dụ: Người Mỹ và Việt kiều Mỹ vào Việt Nam du lịch. Khách du lịch quốc tế đi ra ( Outbound tourist): là công dân của một quốc gia và người nước ngoài đang cư trú tại quốc giá đó đi ra nước ngoài du lịch. Thí dụ: Người Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch đến nước khác ( Trung Quốc, Thái Lan,. Những đối tượng sau đây không được công nhận là khách du lịch quốc tế: - Những người đến một nước để thừa hành một nhiệm vụ nào đó (các nhân viên thương vụ, ngoại giao ở các sứ quán, cảnh sát quốc tế làm nhiệm vụ ở nước khác,.); - Những người đi sang nước khác để hành nghề (dù có hay không có hợp đồng), hoặc tham gia các hoạt động kinh doanh ở nước đến.

7 - Những người nhập cư vào nước đến; - Học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh sống tạm trú ở nước ngoài; - Những người thường xuyên qua lại biên giới (nhân viên hải quan tại các cửa khẩu, người buôn bán ở các chợ biên giới,.); - Những hành khách đi xuyên qua một quốc gia (khách transit) và không dừng lại cho dù cuộc hành trình đó kéo dài trên 24 giờ. Khách du lịch nội địa ( Internal Tourist) Khách du lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở chỗ nơi đến của họ cũng chính là nước mà họ cứ trú thường xuyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ