chương 1 Cuộc xâm lược của Đề chế Mông Cỏ và cuộc di cư của người Thái đã tác động sâu sắc đến lịch sử của Đông Nam Ả trong thể kỹ XI và XIII. Những biến động do hai sự kiện gây ra này đã xảy ra làm phổi cho các quốc gia cường thịnh và tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của các vương quốc mới. Sự xâm lược của quân Mông Cô, đã thay đổi hoàn toản tỉnh hình chính trị của khu vực Đông Nam Á và bản đồ các quốc gia. Thất bại của Mông Cỏ trước sự mạnh mẽ của Đại Việt góp phần củng cố vị thế vả uy tín của nhà Trần tại khu vực.
Trong khi đó, sự suy thoái và sụp đô của Pagan vả Singhasari mở ra ky nguyên mới cho sự thành lập các quốc gia mới la Ava va Majapahit. Cùng với sự xâm lược của Mông Cổ, cuộc thiên di của người Thái cũng có những tác động sâu rộng. Sự thành lập của các vương quốc Thái Lan như Sukhothai, Lan Na va Ayutthaya da dẫn tới sự đồng hóa văn hóa, ngôn ngữ vả tôn giáo ở nhiều khu vực Đông Nam Á. Sự xuất hiện của các vương quốc của người Thái cũng đã tác động đến địa vị của Angkor tại khu vực Đông Nam A luc dia.
Cuộc chiến lược của người Mông Cổ và cuộc di cư của người Thái đã góp phân chuyển dịch cán cân quyền lực, thay đối bản đồ chính trị và văn hóa của Đông Nam Á trong giai đoạn nảy. Thể kỷ XII và thể kỷ XIII đánh dẫu giai đoạn hưng thịnh nhưng cũng là thời kỳ suy tàn của Để chế Angkor tại Campuchia. Dưới triểu đại của các vị vua như Jayavarman VỊI, Angkor đã đạt đến đỉnh cao về quyển lực, lãnh thổ và thịnh vượng kinh tế, trở thành một trong những vương quốc hủng mạnh nhất trong khu vue Dong Nam A, Sự phát triển của Angkor trong thẻ kỷ XII được thể hiện rõ nét qua các công trình kiến trúc vĩ đại như Angkor Wat, cũng như hệ thông tưới tiêu và quản trị nhà nước tiên tiến. Việc mở rộng lãnh thô sang vương quốc Chăm Pa và các khu vực khác càng khẳng định uy thế của Angkor trên trường chính trị Đông Nam Á.
VƯƠNG QUỐC ANGKOR DƯỚI THỜI VUA JAYAVARMAN VII 2. Chính trị, kinh tế, kiến trúc, văn hoá, y tế và giáo dục của vương quốc Angkor dưới thời Jayavarman VII 3. Chính trị 2. Tổ chức bộ máy nhà nước và quyên lực của nhà vua Từ thời tiền Angkor, bắt đầu vào khoảng đầu thể kỷ IX, tổ chức bộ máy nha nước mang yếu tô quân chủ phương Đông.
Tổ chức bộ máy nhà nước đứng đầu là nhà vua, dưới vua có hệ thống quan chức, người hâu, nô lệ, linh canh. Noi ngắn gọn, thực tế, tờ thời tiễn Angkor [ít nhất là vào thể kỷ thứ mười của phân cấp duy nhất, vả việc xây dựng phả hệ của các triều đại Angkor đầu tiên cho thấy một gia tộc hÌnh nón. Đây lả một gia tộc trong đỏ tắt cá các thành viên được xếp hạng theo thứ bậc về mức độ quan hệ. đó là sự gần gũi cúa dòng dõi, tổ tiên chung, thực tế hoặc linh, những người có thê hợp nhất với một vị thân.
Khi một gia lộc trở thành bộ máy nhả nước, các chức vụ nhà nước được phân phối theo cấp bậc thị tộc, với thành viên cắp cao nhất lá vua. Kế vị không nhất thiết phải là cha với con. (Michael & Damian, 2018) Khi một gia tộc hình nón trở thành bộ máy nhà nước, các chức vụ được phân bố theo cấp bậc thị tộc và thảnh viên cao cắp nhất sẽ trở thành vua. Thông thường, vương quyền sẽ được truyền qua các cá nhân có cùng thể hệ trước khi truyền xuống thể hệ tiếp theo.
Điều đó giải thích cho việc sau khi Dharanindravarman II qua đời thì Yashovarman II lên ngôi mà không phải là con trực hệ của Dharanindravarman I] 1a Jaayavarman VIL. Ngay tử khi thời ki Angkor bat dau, hinh thite t6n thé Than-Vua da duge ap dụng, những nghỉ lễ được lặp đi lặp lại và sự vượt trội của nhà vua trên hằu hết tắt cả các mặt, người dân Angkor coi các uua là hiện thân của anh hùng trong sit thi Án Độ, mỗi vị vua được coi là vĩ đại nhất chứ không phải là một vị vua trong nhiều vị vua trị vì Angkor. Những vị vua với sự thừa kế ngai vàng chính thống và những đóng góp của bản thân vị vua đó đối với vương quốc thường được nhân dân tôn thờ như một vị thần và được đồng hóa với hình tượng hữu hình của thần thông qua các tượng điêu khắc và bia kí trong các đền thờ. Đây là quan điểm được thực hiện trong các bản khắc bảng tiếng Phạn của Campuchia ca ngợi các vị vua lả hiện thân của đức hanh, những hiện thân sống.
trong xã hội, gắn liễn với bẩu trời, mặt trời, Indra, Vishnu vả Rama hơn là với các lực lượng trần gian hoặc tổ tiên, (David, 2008) Mô hình vương quốc của Jayavarman VỊI được hình thảnh bởi việc tập hợp các khu vực chịu ảnh hưởng thành một quốc gia lớn với một cơ quan trung ương. Có thể nói vương quốc dưới thời Jayavarman được đánh giá là một trong những trung tâm Mandala. Sức mạnh vương quốc ảnh hưởng tới các vùng xung quanh, với trung tâm là Angkor dưới sự trị vì của Jayavarman VỊI, bị ảnh hưởng bởi Án Độ. Nguồn gốc của niềm tỉn quan trọng nảy là nếu một vị vua được thánh hiến đúng cách, anh ta cỏ thể biển đổi bản thân vả môi trường của minh thánh một côi thiên liêng (mandala) dưới sự kiếm soát của anh ta.
Các vị vua của họ trở thành Bê tắt thị giả. người bảo hộ và vân vân. Vương quốc của họ trớ thành những thiên đường Phật hoàn hảo, các sắc lệnh vả quy tắc của họ trở thành lời nói hoặc thẫn chú giác ngộ, và động cơ vả cảm hứng của họ đã dẫn đến sự giác ngộ của Phật giáo, Cùng có thẻ về mật tư tưởng, Phật giáo được triều đỉnh chẳp nhận và tra chuộng vỉ nỏ tâng bốc hình ảnh bản thân hoảng gia. (Nietupski, 2019) Như các mô hình Mandala khác, để chế Angkor lắy Angkor lảm trung tâm, lãnh thô được chia thành các tinh, dưới tỉnh lả các lang, ngoài ra còn có các vùng chịu ảnh hưởng và các thuộc quốc khác của quốc gia đó.
Hệ thông quan lại được nhà vua bổ nhiệm mả không thông qua việc bầu cử. Hầu như các quan lại thường là người trong gia đình hoàng gia hoặc là người được nhà vua tin nhiệm, đưới thời Jayavarman VII, trường hợp này có thể nhắc đến là Vidyanandana - người đã lãnh đạo quân Khmer đánh Champa. Bộ máy chính quyển trung ương được cai trị bởi vua; giữa chính quyền trung ương vả địa phương là tổ chức thanh tra hoàng gia - tamrvach, giúp nhả vua trồng coi vả nắm được tình hình trong nước. Bộ mảy chính quyền địa phương bao gồm quan lại trông coi các tỉnh ~ khloã visaya chịu trách nhiệm về hành chính lả kinh tế của cả tính; dưới tỉnh là lảng.
mỗi làng đều cỏ người dứng đầu lả khloñ sruk, tuy nhiên đại diện thực tế đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền địa phương với chỉnh quyền trung ương là giả làng - gramavardha. Các làng được thảnh lập dựa trên niềm tin về một tôn giáo chung, *lan Mabbet cung cấp một định nghĩa tối giản về sruk: ‘sy phan chia lãnh thổ nơi một nên tảng tôn giáo được thiết lập và một cộng đồng phát triển' (Michael & Damian, 2018). Trong mỗi làng có người cai quản quân đội - khloñ vala, người trông coi đền thời - khloñ vnam, người trông coi các đồng lúa — khlofi sru, ngoài ra còn có toà án. Có hai từ tiếng Khmer cho “tỉnh”: praman vả visaya, có lẽ cả hai đều đồng.
Mỗi tính trong số này lẫn lượt được chia thành các lảng (sruk hoặc grama). Ở mọi cắp độ đều có quan chức (khloä, "thủ lĩnh`) đại diện cho chỉnh quyền trung. ương, và những người đám bảo rằng khoảng thu được chuyển về trung ương. Hâu hết hoặc tất cả những người nảy đều được bổ nhiệm bởi nhà vua, không được bầu.
(Michael & Damian, 2018) Sơ đỗ tổ chức của bộ máy nhà nước Campuchia thế kỷ XII-XII. (Nguồn: Michael & Damian, 2018) Bộ máy nhà nước Angkor đơn giản, sơ khai và chưa chặt chẽ, người dân không thể liên hệ trực tiếp đến nhả vua mà phải thông qua khloñ visaya; nhưng trên thực tế, khloñ visaya không thật sự là cầu nối giữa chinh quyền trung ương và địa phương. Đề chế Khmer cũng có những vùng đắt thuộc sở hữu tư nhân, “một cá nhân đầy tham vọng xuất thân từ một gia đình nỗi tiếng có thẻ mua một vũng. đất trống hoặc nhận đất từ nhà vua, sau đó tìm thấy một sruk với sự chấp thuận của hoảng gia” (Michael & Damian, 2018), Cũng như những nhà nước Án Độ hoá khác, nhà nước và đề chế Khmer được cai trị bởi những quy tắc được đặt ra.
Như thường thấy là một bản tóm tắt lớn về luật Bà La Môn — “Luật Manu”. *Về cờ bán, đó là những dòng chữ khắc đá còn sót lại, vả họ vẽ một bức tranh về vua Khmer với tư cách là người bảo vệ luật pháp và trật tự ở Cambodia” (Michael & Damian, 2018). Luật Manu được áp dụng tai Angkor được sửa đôi phù hợp với tình hình xa hi Angkor, thay thé cho hệ thống bốn đẳng cấp ban đầu của Về Đà Án Độ. Các toà án pháp luật ở Angkor có mặt khắp mọi cắp độ hành chính, được sử dụng để tiễn hành tổ tụng hình sự với những hành vì vi phạm, đảm bảo tính hợp pháp của đất đai và giải quyết các vấn đề về ranh giới đất đai tư nhân.
Ngay cả các tô chức tôn giáo như đền thờ cũng không được ưu tiên trong vấn đề vẻ đất đai; đất đai của các tổ chức tôn giáo khi kiện tụng được xét xử như đất đai của các cá nhân. Về lý thuyết, đất đai khấp đế quốc đều thuộc quyền sở hữu của vua Khmer, nhưng thực tế thì vua chỉ đồng vai trỏ của một nhà phán xử trong các tranh chấp đất đai chưa được giải quyết, "bên ngoài thú đô, vùng nông thôn hầu hết nằm dưới quyền liểm soát của các cá nhân” (Michael & Damian, 2018). Cac toà án giải quyết các kiện tụng và tranh chấp dựa trên luật pháp. Các phiên xét xử gồm “những người bị buộc tội trước khí tiền hành xét xử được gọi là sabhãsat hoặc sabhya, các nhà điều tra cia toa an” (Michael & Damian, 2018).