Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 3. Thiết kế nghiên cứu 5 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5.
Kết luận và hàm ý chính sách 6 CHƯƠNG 2. Lý thuyết về vốn xã hội 2. Khái niệm vốn xã hội Khái niệm vốn bao gồm vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn con người. Tuy nhiên, có thể thấy ba loại vốn trên chỉ là một phần của quá trình tăng trưởng kinh tế, bởi vì họ bỏ qua những cách thức mà các thành phần kinh tế liên kết với nhau, tương tác qua lại và tự tổ chức để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển.
Theo Grootaert (1997) liên kết còn thiếu đó chính là vốn xã hội. Vốn xã hội là một thuật ngữ xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên bởi Lyda J. Hanifan, một nhà cải cách trường học ở West Virginia, vào năm 1916 (Putnam 2000, tr.
7) tuy nhiên sau đó không được giới khoa học chú ý. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ vốn xã hội được quan tâm bởi những phân tích đến từ các công trình của các nhà xã hội học Canada, đặc biệt từ những năm 60 với công trình của nhà nghiên cứu đô thị Jane Jacobs, những năm 70 với nhà kinh tế học Glenn Loury, những năm 80 với công trình của nhà xã hội học Hoa Kỳ James Coleman (1988) (xem Putnam 2000, tr. Từ nhưng năm 90 trở lại đây, vốn xã hội trong tương quan với sự phát triển kinh tế xã hội được nghiên cứu đặc biệt rộng rãi bởi chương trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (Narayan 1997, Narayan & Cassidy 2001; Narayan & Pritchett 1999; Narayan & Shah 2000; Narayan – Parker 1999; Rose 1999, 2000a; Woolcock 1998; Woolcock & Narayan 2000). Vào những năm 1990s, tác phẩm Chơi bowling một mình: vốn xã hội Hoa Kỳ (1995) của nhà chính trị học Robert Putnam đem vốn xã hội trở thành một thành tố thiết yếu liên quan đến sự tồn vong của một xã hội/nhà nước.
Cụ thể: Lyda Judson Hanifan là người tiên phong trong nghiên cứu về vốn xã hội. Hanifan (1916) dùng khái niệm vốn xã hội để chỉ tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, cũng như tương tác giữa các cá nhân hay gia đình – những người tạo nên một đơn vị xã hội. Cho đến nay khái niệm vốn xã hội (VXH) đã được phát triển với nhiều định nghĩa và cách giải thích khác nhau. Theo Pierre Bourdieu (1986) 7 vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực (hiện hữu hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hay gián tiếp (chẳng hạn cùng thành viên của một tôn giáo, hoặc cùng sinh quán hay đồng môn) và là một mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau.
Bourdieu cho rằng khối lượng vốn xã hội của một cá nhân chính là mối quan hệ và danh tiếng của cá nhân đó trong xã hội và thực chất nó là mạng lưới xã hội của cá nhân. Một cá nhân có mạng lưới quen biết (trực tiếp hoặc gián tiếp) lớn thì sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm và khẳng định vị thế của họ trong xã hội. Năm 1988, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông hiểu vốn xã hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội (social trust) là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung. Hầu hết các tác giả đều đều thống nhất với Bourdieu ở chỗ cho rằng vốn xã hội gắn liền với mạng lưới xã hội.
Robert Putnam (1995) đã lập lại ý tưởng của Coleman và đưa ra định nghĩa như sau về vốn xã hội: Vốn xã hội nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương. Ông cho rằng trong một nhóm, nếu tất cả các thành viên tin tưởng nhau, họ có thể hoàn thành công việc của họ tốt hơn và vốn xã hội cho phép họ làm những công việc với chi phí thấp hơn. Cách hiểu của Ngân hàng Thế giới (1999) về vốn xã hội cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên: “Vốn xã hội liên quan tới các tổ chức, các mối quan hệ, và các chỉ tiêu hình thành chất lượng và số lượng của các tương tác xã hội, tin tưởng nhau dẫn đến hành động tập thể hay nói cách khác nó là “chất keo” gắn kết các mối liên hệ với nhau”. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng có các quan niệm khác nhau khi định nghĩa về vốn xã hội.
Durlau và a champs (2005) đưa ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông cho rằng vốn xã hội là dạng không chính thức của các tổ chức và các tổ chức dựa trên 8 các mối quan hệ xã hội, mạng lưới, các hiệp hội tạo ra sự chia sẻ kiến thức, tin tưởng lẫn nhau, các chuẩn mực xã hội và các quy tắc bất thành văn. Có thể thấy, cũng như nhiều thuật ngữ khác, vốn xã hội là một khái niệm gây tranh cãi và có cách hiểu chưa thống nhất trong giới học giả (xem Fukuyama 2002, tr. Nguyên nhân tới từ việc vốn xã hội là một khái niệm đa chiều, có biểu hiện ở nhiều cấp độ, hình thức và nội dung khác nhau, từ vi mô, trung mô đến vĩ mô (Turner 2000, tr. Phần này giới thiệu các định nghĩa kinh điển của các học giả Piere Bourdieu, James Coleman, và Robert Putnam.
Về lịch sử khái niệm và các cuộc thảo luận xung quanh thuật ngữ vốn xã hội, xem Lin (2001, tr. Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, tuy nhiên các định nghĩa và giải thích đều xoay quanh bốn yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau: hệ thống các mạng lưới xã hội; niềm tin của con người trong xã hội; sự hợp tác và sự gắn bó với mọi người. Cho đến nay, khái niệm vốn xã hội vẫn đang được tiếp tục thảo luận, phát triển với nhiều định nghĩa, cách giải thích khác, nhưng tựu trung vốn xã hội thường được định nghĩa xoay quanh bốn yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau: hệ thống các mạng lưới xã hội; niềm tin của con người trong xã hội; sự hợp tác và sự gắn bó với mọi người. Trên cơ sở về các quan niệm và các định nghĩa của các nhà nghiên cứu trước và trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, các yếu tạo thành vốn xã hội được xác định trong bài viết này là mạng lưới xã hội (bao gồm mạng lưới chính thức và không chính thức), sự tin cậy và sự hợp tác với nhau.
Theo đó, có thể hiểu rằng sự liên kết thực tế giữa các mạng lưới xã hội như các cá nhân, các nhóm, các tổ chức, các hiệp hội với nhau sẽ tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, từ đó có thể tin tưởng và cho phép mọi người hợp tác làm việc cùng nhau. Lợi ích mà các hộ gia đình nhận được từ vốn xã hội của mình là những điều kiện thuận lợi để chủ thể tham gia huy động và sử dụng hiệu qủa các nguồn lực tài chính. Vai trò của vốn xã hội Vốn xã hội bao gồm các mạng lưới mối quan hệ xã hội, được đặc trưng bởi các tiêu chí lòng tin và có đi có lại. Vì có sự tin tưởng, vốn xã hội cho phép mọi 9 người hành động vì lợi ích lẫn nhau (Lochner et al, 1999).
Theo Stewart-Weeks and Richardson (1998) bằng chất lượng của các mối quan hệ xã hội, các cá nhân có thể sử dụng nó để giải quyết các vấn đề mà họ gặp phải. Tsai (2000) và Coleman (1988) nghiên cứu và chỉ ra rằng vốn xã hội có vai trò quan trọng trong việc chia sẻ kiến thức và thông tin, từ những thông tin và kiến thức nhận được qua sự chia sẻ của các mạng lưới xã hội, các cá nhân có thể sử dụng để phát triển vốn con người. Niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội (Stone, 2001) khi sự tin tưởng được phát triển, mối quan hệ này mang sẽ mang tính chất lâu dài, và do đó đòi hỏi phải bảo trì ít hơn. Thật vậy, với những người bạn tin tưởng và tin tưởng bạn, sau nhiều năm ít có sự tương tác với nhau thì mối quan hệ vẫn được duy trì mạnh mẽ.
Prusak and Cohen (2001) lập luận để tăng tính hiệu quả trong quản lý, các nhà quản trị phải đặt niềm tin lên ưu tiên hàng đầu để xây dựng mối quan hệ trong các tổ chức có tính mạnh mẽ. Ngoài ra vốn xã hội còn được Coleman (1988) và Dearmon and Grier (2011) nhắc tới với vai trò quan trọng trong việc là tạo ra vốn con người thông qua các mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng nhất để hình thành vốn con người ở thế hệ tiếp theo, nghiên cứu của Coleman về tỷ lệ học sinh bỏ học chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa vốn xã hội của phụ huynh ảnh hưởng đến thành tích học tập của con cái. Theo Becker (1993) vốn xã hội tác động đến kiến thức, thói quen và kỹ năng của trẻ em qua tầm ảnh hưởng của gia đình. Nghiên cứu của mình Ports et al (1998) cũng nhận xét sự hiệu quả của vốn xã hội trong việc kiểm soát việc học tập của trẻ em mà không cần sử dụng đến các biện pháp kiểm soát khác.
Vốn xã hội còn có vai trò trong phát triển kinh tế, trong một số trường hợp vốn xã hội có thể được sử dụng trong việc huy động các nguồn lực tài chính để đầu tư tăng trưởng kinh tế (Woolcock, 2001). Theo Trần Hữu Dũng (2003), bằng yếu tố niềm tin vốn xã hội giúp giảm các chi phí giám sát, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và tiền bạc chi cho các hoạt động giám sát để đầu tư vào các hoạt động kinh tế khác. Vốn xã hội cũng có vai trò không nhỏ trong việc xây dựng và phát triển một xã hội dân sự (civil society) là kết luận từ nghiên cứu của Putnam (1995,2000). Putnam quan tâm đến mối quan hệ gắn kết giữa các công 10 dân.
Ông cho rằng vốn xã hội biểu thị sự cam kết công dân là công cụ để hướng tới thịnh vượng.