Nghiên cứu phát hiện virus gây bệnh thối đen mũ chúa trên ong mật ở miền Bắc Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus nghiên cứu phát hiện virus gây bệnh thối đen mũ chúa black queen cell virus trên ong mật ở miền, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI ONG

1.1.1. Nguồn gốc của ong

1.1.2. Hình thái cấu tạo ngoài của ong

1.1.3. Vị trí phân loại của ong

1.1.4. Các loài ong ở Việt Nam

1.1.5. Miễn dịch học ở ong

1.2. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG MẬT ONG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.3. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở ONG

1.3.1. Bệnh ở ong do các tác nhân gây bệnh không phải virus

1.3.2. Bệnh ở ong do virus gây ra

1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN PHÁT HIỆN VIRUS Ở ONG MẬT

1.4.1. Phương pháp ELISA (xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme)

1.4.2. Phương pháp phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR)

1.4.3. Phương pháp RT – PCR

1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VIRUS GÂY BỆNH TRÊN ONG VIỆT NAM

1.6. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.1. ĐỊA ĐIỂM THU MẪU

1.6.2. VẬT LIỆU VÀ HÓA CHẤT

1.6.2.1. Hóa chất và sinh phẩm
1.6.2.2. Trang thiết bị

1.6.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.3.1. Phương pháp thu mẫu
1.6.3.2. Phương pháp tách chiết RNA tổng số
1.6.3.3. Xác định nồng độ RNA bằng máy quang phổ nanodrop
1.6.3.4. Tổng hợp cDNA từ RNA tổng số
1.6.3.5. Khuếch đại đoạn DNA đặc hiệu cho BQCV từ cDNA bằng phản ứng PCR
1.6.3.6. Điện di kiểm tra trên gel agarose 1%
1.6.3.7. Gắn sản phẩm PCR vào vector pCR2
1.6.3.8. Biến nạp plasmid tái tổ hợp vào vi khuẩn E
1.6.3.9. Tách chiết plasmid
1.6.3.10. Cắt kiểm tra plasmid với enzyme giới hạn EcoRI
1.6.3.11. Tinh sạch plasmid tái tổ hợp
1.6.3.12. Giải trình tự gen bằng máy xác định trình tự tự động ABI 3100
1.6.3.13. Nhân dòng gen mã hóa helicase và xây dựng cây phát sinh loài

1.7. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1.7.1. PHÁT HIỆN SỰ LÂY NHIỄM BQCV TRÊN ONG MẬT Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

1.7.1.1. Kết quả tách chiết RNA tổng số
1.7.1.2. Phát hiện BQCV bằng kỹ thuật RT-PCR
1.7.1.3. Tách dòng sản phẩm RT-PCR đoạn DNA đặc hiệu BQCV
1.7.1.4. Kết quả giải trình tự đoạn DNA đặc hiệu BQCV

1.7.2. SỰ PHÂN BỐ CỦA BQCV TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM

1.7.3. XÁC ĐỊNH NGUỒN GỐC CỦA BQCV LƯU HÀNH TRÊN ONG MẬT TẠI CÁC TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM

1.8. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về virus thối đen mũ chúa trên ong mật

Virus thối đen mũ chúa (Black Queen Cell Virus - BQCV) là một trong những tác nhân gây bệnh nghiêm trọng cho ong mật, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam. Nghiên cứu về virus này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự lây lan và tác động của nó đến đàn ong mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. BQCV gây ra tình trạng thối rữa ở ấu trùng ong chúa, dẫn đến thiệt hại lớn cho ngành nuôi ong. Việc phát hiện và chẩn đoán sớm virus này là rất cần thiết để bảo vệ đàn ong và duy trì sản xuất mật ong.

1.1. Đặc điểm sinh học của virus thối đen

Virus thối đen mũ chúa thuộc họ Iflaviridae, có cấu trúc RNA. Virus này chủ yếu lây lan qua đường tiêu hóa và có thể tồn tại trong môi trường trong thời gian dài. Các triệu chứng của bệnh bao gồm ấu trùng bị thối rữa, ong chúa yếu và giảm năng suất mật. Nghiên cứu cho thấy, virus này có thể lây lan nhanh chóng trong các đàn ong, đặc biệt trong điều kiện nuôi nhốt.

1.2. Tình hình nghiên cứu virus thối đen ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về BQCV còn hạn chế. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng virus này đang gia tăng sự phổ biến trong các đàn ong mật ở miền Bắc. Việc phát hiện sớm và chẩn đoán chính xác là rất quan trọng để kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ ngành nuôi ong.

II. Thách thức trong việc phát hiện virus thối đen mũ chúa

Việc phát hiện virus thối đen mũ chúa gặp nhiều thách thức do sự tương đồng với các virus khác và triệu chứng bệnh không rõ ràng. Nông dân thường không nhận biết được dấu hiệu ban đầu của bệnh, dẫn đến việc lây lan nhanh chóng trong đàn ong. Hơn nữa, việc sử dụng kháng sinh không hiệu quả trong việc điều trị bệnh do virus, khiến cho tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.

2.1. Khó khăn trong chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán virus thối đen mũ chúa thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng, nhưng triệu chứng này có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác. Do đó, cần áp dụng các phương pháp chẩn đoán chính xác như RT-PCR để phát hiện virus.

2.2. Tác động của môi trường đến sự lây lan virus

Môi trường nuôi ong có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và lây lan của virus. Các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ và nguồn thức ăn có thể tạo điều kiện thuận lợi cho virus phát triển. Việc hiểu rõ tác động của môi trường là cần thiết để xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu virus thối đen mũ chúa

Nghiên cứu virus thối đen mũ chúa được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm thu mẫu, tách chiết RNA và xác định nồng độ RNA. Các phương pháp này giúp phát hiện virus một cách chính xác và nhanh chóng, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

3.1. Phương pháp thu mẫu và tách chiết RNA

Việc thu mẫu ong và tách chiết RNA là bước quan trọng trong nghiên cứu. Mẫu ong được thu từ các đàn có triệu chứng bệnh và sau đó RNA được tách chiết để tiến hành phân tích. Phương pháp này giúp xác định sự hiện diện của virus trong mẫu.

3.2. Kỹ thuật RT PCR trong phát hiện virus

Kỹ thuật RT-PCR là phương pháp chính được sử dụng để phát hiện virus thối đen mũ chúa. Phương pháp này cho phép khuếch đại các đoạn RNA của virus, từ đó xác định sự hiện diện của virus trong mẫu một cách nhanh chóng và chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy virus thối đen mũ chúa đã được phát hiện tại nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam. Sự phân bố của virus này cho thấy mức độ lây lan cao trong các đàn ong. Các kết quả này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng cho ngành nuôi ong mà còn giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

4.1. Phân bố virus thối đen mũ chúa tại miền Bắc

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng virus thối đen mũ chúa có sự phân bố rộng rãi tại các tỉnh miền Bắc, với tỷ lệ nhiễm cao ở các đàn ong nuôi. Điều này cho thấy cần có các biện pháp kiểm soát dịch bệnh kịp thời.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để xây dựng các chương trình phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh cho ngành nuôi ong. Việc phát hiện sớm và chẩn đoán chính xác sẽ giúp bảo vệ đàn ong và duy trì sản xuất mật ong bền vững.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu virus

Nghiên cứu virus thối đen mũ chúa trên ong mật ở miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra tầm quan trọng của việc phát hiện và chẩn đoán sớm virus. Các biện pháp phòng ngừa cần được triển khai để bảo vệ đàn ong và duy trì sản xuất mật ong. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về virus này và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu virus trong ngành nuôi ong

Nghiên cứu virus thối đen mũ chúa không chỉ giúp bảo vệ đàn ong mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nuôi ong. Việc hiểu rõ về virus sẽ giúp nông dân có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các phương pháp điều trị và phòng ngừa hiệu quả hơn cho virus thối đen mũ chúa. Việc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và nông dân cũng rất quan trọng để nâng cao nhận thức và ứng dụng các biện pháp phòng ngừa.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu phát hiện virus gây bệnh thối đen mũ chúa black queen cell virus trên ong mật ở miền bắc việt nam 07

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI ONG 1. Nguồn gốc của ong Trong lịch sử phát triển của sinh giới thì động vật có hai hướng tiến hoá đó là động vật không xương sống và động vật có xương sống. Trong động vật không có xương sống thì phát triển nhất là ngành chân đốt, trong đó có loài ong.

Ong có nguồn gốc từ ngành động vật chân đốt, có tên khoa học là Arthropoda, chân đốt có nguồn gốc từ giun đốt (Annelides) xuất phát từ lớp giun nhiều tơ (Polychaeta). Quá trình chuyển hoá từ giun nhiều tơ sang ngành chân đốt là một quá trình phức tạp hoá về mặt cấu tạo. Tầng Cuticul =>Vỏ kitin (bộ xương ngoài) Biểu bì mô cơ => bó cơ Chi bên => Chi phân đốt Mạch máu lưng => Tim Cơ quan thị giác phát triển phức tạp. Các đốt trước tập hợp thành đầu, đốt giữa thành ngực, đốt phần sau chuyển thành phần bụng.

Bên cạnh đó xuất hiện thêm một số cơ quan mới: ống khí, ống Malpighi. Hình thái cấu tạo ngoài của ong - Cơ thể ong chia làm 3 phần rõ rệt: Đầu, ngực và phần bụng, các phần này được nối với nhau bằng các khớp động. - Có 3 đôi chân và 2 đôi cánh. - Bên ngoài có lớp vỏ kitin gồm nhiều tấm nối với nhau tạo nên bộ xương ngoài.

- Trong một tổ ong có 3 cấp: Ong chúa có kích thước lớn nhất, cánh ngắn, bụng dài, có màu nâu đen hoặc vàng; ong thợ có kích thước cơ thể nhỏ nhất, có màu 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vàng hoặc màu nâu xám hoặc đen xám có sọc vàng, bụng nhọn; ong đực có màu đen, cánh dài, bụng ngắn. Vị trí phân loại của ong Trong thế giới động vật, ong mật thuộc ngành chân đốt (Arthropoda) hay lớp 6 chân (Hecxapoda), phân ngành có ống khí (Tracheata). Lớp côn trùng (Insecta) Bộ cánh màng (Hymenoptera) Họ ong mật (Aptsdae) Giống ong mật (Apis) Trên thế giới hiện nay có 7 loài ong cho mật, trong đó ở Việt Nam có 4 loài chính: + Ong châu Âu (Ong ngoại): Apis mellifera (A.mellifera) + Ong Nội địa (Ong châu Á): Apis cerana (A.cerana) + Ong Khoái (Ong gác kèo): Apis dorsata (A.dorsata) + Ong Hoa (Ong muỗi): Apis florea (A.florea) Trong mỗi loài lại phân chia thành các phân loài khác nhau như: Đối với ong châu Âu (A.mellifera) có các phân loài: Ong Ý, ong Trung - Nga, ong Cacpat, ong Crain, ong vùng Capcazơ; Đối với ong châu Á A. Mỗi phân loài đó lại có nhiều dạng sinh thái - sinh học hình thành từ lâu đời dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác nhau và các đặc điểm thích nghi với điều kiện sống khác nhau.

Điều này dẫn đến các đặc điểm có ý nghĩa kinh tế đối với con người cũng khác nhau và có ý nghĩa rất to lớn trong công tác giống ong vì chúng bảo vệ và duy trì được tính đa dạng sinh học thông qua các hệ gen quý hiếm tồn tại trong tự nhiên [3]. Các loài ong ở Việt Nam Trong 4 loài ong được nuôi ở Việt Nam thì có 2 loài ong có giá trị kinh tế 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao, được nuôi rộng rãi để lấy mật và các sản phẩm khác đó là ong nội (ong Châu Á) A.cerana và ong ngoại (ong châu Âu) A. Hai loài này có những đặc điểm khác nhau và bổ sung cho nhau. Còn một số loài ong hoang dã như ong khoái (A.laboriosa) hay ong hoa (A.florea) thì vẫn chưa được nghiên cứu, thuần hóa và việc khai thác mật của các loài này chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chủ yếu mới dừng lại ở mức khai thác và săn bắt trong tự nhiên…  Ong nội (Apis cerana) Hình 1.

Ong chúa của đàn ong nội Ong nội A.cerana là giống ong bản địa ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác. Ở nước ta, ong nội phân bố rộng khắp cả nước ngoại trừ rừng tràm U Minh. Ong nội có kích thước trung bình, đặc tính chăm chỉ, chịu được các điền kiện sống bất lợi, ít dịch bệnh, chất lượng mật tốt, mật ong bán được với giá thành cao. Tuy nhiên, ở ong nội năng suất mật thấp, ong khá hung dữ, dễ bốc bay và dễ chia đàn.

Do là loài ong bản xứ nên ong nội thích nghi tốt với nguồn hoa rải rác, điều kiện khí hậu hay thay đổi. Ong nội có thể nuôi từ các quy mô từ hộ gia đình tới nuôi chuyên nghiệp, nhưng nó thích hợp hơn với kiểu nuôi quy mô nhỏ trong gia đình với vốn đầu tư ban đầu thấp và chủ yếu là cung cấp sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước. Năng suất mật ở ong nội chỉ đạt trung bình khoảng từ 10 - 15 kg/ đàn/năm. Để phát triển ong nội, người nuôi ong cần chọn các đàn có tính tụ đàn 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao, chọn giống ong tốt và quan tâm tới phòng bệnh để nâng cao năng suất cũng như chất lượng mật [1].

 Ong ngoại (Apis mellifera) Hình 1. Ong chúa của đàn ong ngoại Ong ngoại A.mellifera có nguồn gốc từ châu Âu, châu Phi, được nhập vào nước ta từ những năm 60 với hình thức thương mại và đã thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và nguồn hoa ở nước ta. Đặc biệt ở vùng Nam Bộ và Tây Nguyên là những nơi có nguồn hoa tập trung (cao su, cà phê, bông trắng.) do đó năng suất mật của ong ngoại rất cao, bình quân đạt khoảng 25 - 30kg/đàn/năm. Loài ong này phát triển thích hợp với kiểu nuôi chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn hóa cao, vốn đầu tư ban đầu lớn.

Ong ngoại có kích thước lớn hơn ong nội, chúng khá hiền, có khả năng tụ đàn và dự trữ mật cao hơn so với ong nội. Mật ong của ong ngoại chủ yếu là để xuất khẩu. Tuy nhiên, so với ong nội thì ong ngoại có sức chịu đựng kém nên ở những nơi có nguồn hoa rải rác và điều kiện khí hậu khắc nghiệt thì việc nuôi ong ngoại là không thể. Bên cạnh những giá trị kinh tế mà ong ngoại đem lại thì việc nhập ong A.mellifera cũng mang theo các loài ký sinh và bệnh như bệnh thối ấu trùng châu Âu, bệnh ấu trùng túi, bệnh bào tử trùng Nosema… gây nguy hại cho các loài ong bản địa.

Ở mỗi địa phương, trước khi lựa chọn nuôi giống ong nội hay ong ngoại thì người nuôi ong cần phải cân nhắc về số lượng cây, nguồn mật, khả năng đầu tư về thời gian cũng như nguồn vốn để quyết định [1]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Miễn dịch học ở ong 1. Các hàng rào vật lý và hóa học Virus ong mật thường xâm nhập vào vật chủ qua đường tiêu hóa thông qua thức ăn hoặc do các chấn thương trên bề mặt cơ thể, mặc dù chúng cũng có thể trực tiếp đi vào máu qua vết cắn của ký sinh trùng hoặc côn trùng khác.

Cũng như những loài côn trùng khác, ong mật có thể sử dụng cả các hàng rào vật lý và hóa học để tránh nhiễm trùng. Cả hai hàng rào vật lý và hóa hoc đều là miễn dịch không đặc hiệu (mang tính chất bẩm sinh) ở ong mật. Các hàng rào vật lý bao gồm các bộ xương ngoài hay lớp biểu bì bên ngoài, lớp lót kitin của khí quản, niêm mạc lớp biểu bì của ruột trước và ruột sau. Các màng ngoài bao quanh ống tiêu hóa, một lớp lót kitin của ruột giữa, tạo thành một giao diện thứ hai bảo vệ các mô từ môi trường bên ngoài và cũng có chức năng như một rào cản thấm để giữ tác nhân gây bệnh mà xâm nhập từ nguồn thức ăn vào khoang máu thông qua thành ruột.

Ngoài ra, môi trường sinh hóa của ruột cũng có thể hình thành hàng rào hóa học ức chế sự nhân lên và lây lan của tác nhân gây bệnh đến các mô cơ thể. Miễn dịch tế bào Mặc dù các hàng rào vật lý và hóa học thường giữ cho tác nhân gây bệnh không xâm nhập vào cơ thể, tuy nhiên các tác nhân gây bệnh đôi khi vượt qua các hàng rào phòng thủ và bắt đầu nhân lên. Bất cứ khi nào các rào cản vật lý và hóa học bị phá vỡ, ong mật có thể chủ động tự bảo vệ mình khỏi bị nhiễm trùng bằng cách sử dụng một phản ứng miễn dịch tế bào đại diện cho tuyến phòng thủ thứ hai và nó xuất hiện ngay lập tức khi nhiễm trùng. Mục tiêu chính của hệ thống miễn dịch là nhận ra các mầm bệnh và sự khác biệt giữa các phân tử của cơ thể và các phân tử lạ bên ngoài.

Khi một vi sinh vật được nhận ra là các phân tử lạ, hệ thống miễn dịch được kích hoạt để gắn kết một phản ứng phòng thủ để giết hoặc loại bỏ những kẻ xâm nhập. Côn trùng thiếu globulin miễn dịch, sự nhận ra các phân tử lạ đạt được bằng các thụ thể (PRRS) - các protein miễn dịch được mã hóa để nhận ra các tác nhân gây bệnh liên quan (PAMPs) hiện diện trên bề mặt của vi sinh vật. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PRRC có hai nhóm: Các protein nhận biết peptidoglycan (PGRPs) và các protein liên kết Gram âm (GNBPs). Các liên kết của PAMPs với PGRPs và GNBPs kích hoạt các tầng thủy phân protein bao gồm serine, protease và serpins và kích hoạt con đường thủy phân dịch nội bào để kiểm soát biểu hiện peptide kháng khuẩn và một loạt các phản ứng phòng vệ tế bào không đặc hiệu bao gồm sự thực bào, hình thành nốt nhỏ, đóng gói và melanin hóa.

Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào bị nhiễm trùng đã được cho là đặc trưng của ong mật [29]. Hai enzyme quan trọng là phenol oxidase và glucose dehydrogenase đóng một vai trò quan trọng trong việc tổng hợp melanin và cần thiết cho bảo vệ chống lại xâm nhập vi sinh vật và ký sinh trùng, có mặt trong máu của ong mật [47]. Các gen mã hóa serine, protease và serpins mà tham gia vào các liên kết của PAMPs với PGRPs và GNBPs đã được xác định trong bộ gen của loài ong mật, cho thấy ong mật có một hệ thống miễn dịch cho phép chúng bảo vệ chống lại các vi sinh vật và ký sinh trùng. Tuy nhiên, làm thế nào ong mật chống nhiễm virus qua phản ứng tự vệ trung gian tế bào vẫn chưa được xác định.

TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG MẬT ONG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1. Tình hình thị trường mật ong trên thế giới Trong những năm qua, thị trường mật ong thế giới có khá nhiều biến động, giá mật ong liên tục tăng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ