Mở đầu Chương 2. Cơ sở lý luận vả thực tiễn của việc học đọc ngôn ngữ thứ hai Chương 3. So sánh hai chương trình học đọc ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam Chương 4. So sánh việc tiếp nhận chương trình học đọc ngôn ngữ thir hai của hai HS Chương 5.
Kết luận và dé xuất Phần phụ lục gồm: I. Nhật ký phỏng vẫn việc học đọc ở lớp của 2 HS 2. Bảng kết quả hoc tap của 2 HS SVTH: Dương Thị Tham 5 [.uận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoang Thị Tuyết Chương 2 CƠ SỞ LY LUẬN VA THỰC TIEN CUA VIỆC HỌC ĐỌC NGON NGỮ THỨ HAI 2. Cac lý thuyết về quá trình học ngôn ngữ thứ hai Theo các nha ngôn ngữ học, ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ tự nhiên) la ngôn ngữ dau tién ma chung ta được học.
Một ngôn ngữ không được xem như tiếng mẹ đẻ, thông thường được gọi là ngôn ngữ thứ hai. Việc tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai thường khỏ khăn hơn tiếng mẹ đẻ. Và để duy trì được kiến thức của ngôn ngữ nay, người học cẩn phải sử dụng thường xuyên. Như một truyền thông, tiếng mẹ đẻ được thừa hưởng, ngôn ngữ thứ hai được học tập dé giao tiếp.
Lý thuyết chung về việc học ngon ngữ Khi nghiên cứu vé van dé học tập ngôn ngữ nói chung, Patsy M. Lightbown and Nina Spada (1993) đã bản luận vẻ ha lý thuyết trọng tâm: lý thuyết về chủ nghĩa hành vi, tinh bam sinh va sự tương tac. Ly thuyết về chủ nghĩa hành vi Trong lý thuyết nảy, các tác giả cho rằng việc học ngôn ngữ được hình thành trên cơ sở của sự bắt chước và thói quen. Trẻ em bắt chước những mẫu ngôn ngữ ma chúng nhận được từ mỗi trường xung quanh.
Từ đó, các em tiếp tục luyện tập để những mẫu nảy trở thành thỏi quen khi sử dụng. Quan điểm nay cũng cho thay rằng yếu tổ mỗi trường ảnh hưởng khá lớn đến sự thành công của trẻ khi học ngôn ngữ. Lý thuyết về tỉnh bam sinh Mỗi đứa trẻ sẽ có một hệ thống sinh lý danh cho ngôn ngữ. Sự phát triển chức năng ngồn ngữ cũng giống như sự phát triển của các chức năng sinh lý khác.
Chang han, khi tập đi, trẻ em sẽ không được day phải đi như thể nào ma qua quá trình tự do di chuyển (trườn, bỏ, chập chững di,.), chúng sẽ tự biết cach đi sao SVIH:DươgThimO 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoang Thị Tuyết cho vững. Hau hết trẻ em đều biết đi vào một khoảng thời gian giống nhau. Theo nha ngôn ngữ học Chomsky, sự tiếp nhận ngôn ngữ ở trẻ lúc nay cũng giẳng như việc trẻ học đi. Vai trò của người lớn là tạo điều kiện dé khả năng bam sinh của trẻ phát triển.
LỆ thhuyẾt vé sự tương tác Sự thành công của việc học ngôn ngữ ở trẻ không những phụ thuộc vào những hanh vi ma trẻ bắt chước từ mỗi trường hoặc các yếu to bam sinh ở trẻ ma còn phụ thuộc vao sự tương tác của trẻ với mỗi trường ngôn ngữ mà trẻ phát triển. Ly thuyết này cho rằng sự tương tác là yếu tổ mang tỉnh quyết định trong tiền trình học ngôn ngữ của trẻ. Điều đó có nghĩa là trong giao tiếp, người lớn phải thay đổi cách diễn dat của minh sao cho trẻ em cảm thay dễ hiểu. Chang hạn như ding những câu nói don giản, ngắn gọn, nói với tắc độ chậm rãi và sử dụng từ vựng căn bản.
Khi sự tương tác nay diễn ra thành công thì việc tiếp nhận ngỗn ngữ của trẻ sẽ dé dàng hơn. Lý thuyết lĩnh hội ngôn ngữ thứ hai Phân biệt giữa “lĩnh hội” và “học tập” ngôn ngữ: Lý thuyết lĩnh hội ngôn ngữ thứ hai là để xuất của Stephen Krashen (1982). Trong nhiễu yến sách và bai báo, Krashen đã phát triển toản diện lý thuyết nay qua việc thu thập tải liệu nghiên cứu từ những ving miễn khác nhau. Tác giả đã phân biệt rỡ mỗi quan hệ giữa việc “lĩnh hội” (acquisition) và việc “học tập” (learning) ngôn ngữ.
Theo Krashen, “lĩnh hội” (acquisition) là quả trình người học tích lũy dẫn dan những kién thức ngôn ngữ mà mục đích cuỗi cùng của quá trình này là giúp cho người học hiểu va sử dụng nó một cách tự động. Quá trình này, về cơ bản, gắn với sự tương tác có ý nghĩa chứ không chú trọng đến hình thức ngôn ngữ sử dụng. Hay nói cách khác, người học sẽ tiép nhận những kiến thức ngôn ngữ tir trong thực tế, rồi dan dan, qua kinh nghiệm va thực hành, người học sẽ sử dụng chúng một cách nhanh chóng và tự phát ma đôi khi họ còn không nhận ra điều này. Có thé nói đây SVTH: Duong Thị Tham 7 Luận văn tốt nghỉ GVHD: Th.S Hoang Thị Tuyết là một tiễn trình quan trọng trong việc phat triển khả năng ngôn ngữ của người học.
những kién thức mà người học đạt được sẽ tác động trực tiếp đến cách ma họ nói và viết. Và những kiến thức nay sẽ là điều kiện cho việc giao tiếp diễn ra tự nhiên, tréi chảy. Đôi khi, ta không thé giải thích được những hiện tượng trên vi đó là sự tích lũy tự động trong suốt quá trình thực hảnh. Chúng được hình thành dựa trên sự tương tác giữa những kiến thức ma người học đã có hoặc dựa vào sự tiếp nhận kiến thức mới.
Những kiến thức mới được tiếp nhận này. bằng cách này hay cách khác, sẽ tương thích với hệ thẳng kiến thức hiện tại của người học. Và thực tế, người học có thể “tổ chức lại” (restructuring) để sử dụng chúng hiệu quả trong giao tiếp. Một điều đáng lưu ý ở đây là với những kién thức được lĩnh hội dan dan trong thực tế sử dụng, người học có thé sẽ có những tiễn bộ vượt bậc trong tiền trình học một cách tự động, nhưng nêu những kiến thức này quá phức tạp hoặc kết hợp sai thi người học sẽ gặp nhiều khó khăn vả bị trượt lại phía sau.
Krashen cũng khẳng định rằng việc “học tập” (learning) không đẳng nghĩa với việc “lĩnh hội”. Ở lớp, người học sẽ được học một cách bai bản những quy tắc chính tả, những cầu trúc củ pháp hay các yếu to từ vựng. Việc học nay được diễn ra một cách có ý thức. Người học sẽ biết được những quy tắc ngôn ngữ chỉnh xác khi sử dụng.
Cũng vi vậy ma những giờ học ở lớp, GV thường chú ý nhiều đến hình thức ngôn ngữ va tập trung sửa lỗi sai cho HS. Rõ ring, những kiến thức ma người học “lĩnh hội” được sẽ rất khó để xác định hay kiểm chứng, vi nó lả một quá trình tích lũy tự động. Và bản thân người học cũng không thể dự đoán những gi mình sẽ đạt được cho đến khi việc giao tiếp diễn ra. Trai lại, khi học ở lớp, người học sẽ năm được những cấu trúc va các quy tắc ma GV cung cấp, sau đỏ vận dụng chúng trong giao tiếp.
Do vậy, hệ thông ngôn ngữ ma người học học được ở lớp sẽ đóng vai trỏ “sửa chữa” (editor) va “giám sat” (monitor) những kiến thức ma người học “lĩnh hội” trong thực tế. Hệ thông nay sẽ là cơ sở để kiểm soát va tác động lại cách nói ban đầu của người học, giúp người học diễn đạt trôi chảy va chính xác hơn. Để thực hiện được điều nảy doi hỏi người SVTH: Dương Thị Thắm 8 Luận văn tốt nghiệp - GVHD: Th.5 Hoang Thị Tuyết học phải có đủ thời gian. chủ ý đến hình thức và năm vững các nguyễn tắc ngôn ngữ.
Trong lý thuyết nay, Krashen cho rang những nguyễn tắc học chỉ giúp người học trau chuốt những gì ma họ tiếp nhận từ hoạt động giao tiếp. Trọng tâm của việc dạy ngôn ngữ la sự tương tác có ÿ nghĩa. Thực tế cho thay vẫn có nhiều người nói thành thạo khi chưa hé biết một nguyễn tắc nào hoặc cỏ những người năm vững các nguyên tắc nhưng lại phá vỡ chúng khi họ tập trung sự chủ ý của mình vào sự tương tác có ý nghĩa trong giao tiếp. Chẳng hạn, khi sử dụng tiếng Việt, người nói có thể sử dụng câu tỉnh lược (tỉnh lược chủ ngữ hoặc vị ngữ) để việc diễn đạt được nhanh chóng và hiệu quả hơn mặc dù người học biết rằng theo nguyên tắc thì cầu trúc câu bao gồm hai bộ phận chính là chủ ngữ va vị ngữ.
Bên cạnh đó, có những người trong giao tiếp vẫn sử dụng câu tỉnh lược nhưng họ lại không được học hoặc không biết rằng xét về mặt ngôn ngữ thi họ đang sử dụng kiểu câu gì, tuy vậy họ vẫn đạt được mục đích giao tiếp. Xét cho cùng, việc "lĩnh hội” là quá trình người học chiém lĩnh ngôn ngữ qua thực tế sử dụng còn “học tập” là quá trình người học hiểu và nim vững những nguyễn tắc ngôn ngữ. Và những kién thức tiếp nhận từ quả trình “học” sẽ là cơ sở để kiểm soát những gi thể hiện sau khi “lĩnh hội”. Tuy nhiên, chủng ta không thé xác định rõ những gì sẽ được tạo ra qua hệ thống tiếp nhận và những gi sẽ là kết quả của việc kiểm soát.
Do đó, ranh giới giữa việc “hoc tập” và “lĩnh hội” là một vẫn dé rất khó để phân định. Vai trò của mỗi trường và ngữ liệu học tập đối với việc “lĩnh hội” ngôn ngữ Trong giả thuyết nay, Krashen khang định rằng chúng ta tiếp nhận ngồn ngữ thông qua việc tiếp nhận những thông tin từ môi trường. Nếu những thông tin từ các ngữ liệu học tập (bai đọc, câu hỏi, tinh huỗng giao tiếp) chứa đựng hình thức va cau trúc nằm ngoài những hiểu biết hiện tại của người học thi việc hiểu và tiếp nhận sẽ xây ra, Tuy nhiên những ngữ liệu nảy chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ. SVTH: Dương Thị Thắm 9 Luận văn tốt n GVHD: Th.§ Hoảng Thị Tuyết Vai trò của cảm xúc, thái độ cd nhân dai với việc “lĩnh hội” ngôn ngữ Theo Krashen, sự lĩnh hội kién thức của người học cỏn bị chỉ phối bởi yếu tổ cảm xúc.
Yếu tổ nay sẽ giới hạn những điều ma người học quan tâm. Chang han như với những ngữ liệu học tập giếng nhau nhưng sự tiếp nhận, thông qua lang kinh cá nhân của người học, sẽ được dién ra khác nhau. Như ching ta đã biết mỗi người sẽ có động co học tập, nhu cau, tinh cảm, thái độ va những trạng thái cảm xúc khác nhau khi học ngôn ngữ. Các yêu tổ nay sẽ chỉ phối những gi người học lĩnh hội va chỉ phối cả khả năng tập trung của họ.
Do đó, những kiến thức từ môi trường khi cung cấp cho mỗi người sẽ có sự thâm nhập và “chuyển hóa” khác nhau.