Tổng quan nghiên cứu

Thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là căn nguyên trực tiếp dẫn đến các vụ ngộ độc cấp tính và gánh nặng bệnh tật mãn tính trong cộng đồng. Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2018, toàn quốc đã ghi nhận 1.701 vụ ngộ độc thực phẩm với 55.035 người mắc và 399 trường hợp tử vong. Riêng 5 tháng đầu năm 2019, cả nước tiếp tục xảy ra 30 vụ ngộ độc làm 798 người nhập viện và 5 trường hợp tử vong. Tại thủ đô Hà Nội, quận Long Biên là đầu mối giao thương và cửa ngõ phía Đông với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, nơi thịt lợn chiếm tỷ trọng áp đảo từ 44,45% đến 66,67% tổng lượng thịt tươi sống được tiêu thụ hàng ngày tại các chợ dân sinh. Tuy nhiên, việc kiểm soát vệ sinh thú y trong quy trình giết mổ, vận chuyển và bảo quản thịt thương phẩm tại các chợ truyền thống vẫn còn nhiều bất cập, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn đường ruột nguy hiểm xâm nhiễm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn Escherichia coli (E. coli) và Salmonella spp. trên thịt lợn, đồng thời xác định mức độ đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn này. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm hai phần: thứ nhất, khảo sát điều kiện vệ sinh thú y tại 50 quầy kinh doanh thịt lợn và xác định tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trên 68 mẫu thịt lợn thu thập tại 7 chợ thuộc quận Long Biên; thứ hai, kiểm tra tính mẫn cảm và tỷ lệ kháng đối với 10 loại kháng sinh phổ biến của các chủng vi khuẩn phân lập được. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 07 năm 2019 tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y Cộng đồng thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học định lượng chính xác, tạo tiền đề khoa học vững chắc giúp các cơ quan quản lý y tế và thú y hoạch định chiến lược giám sát an toàn sinh học, kiểm soát tồn dư kháng sinh và ngăn chặn nguy cơ lây truyền gen kháng thuốc sang người theo định hướng Một Sức khỏe (One Health).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết bệnh truyền qua thực phẩm kết hợp cơ chế bệnh sinh của vi khuẩn đường ruột họ Enterobacteriaceae và lý thuyết di truyền học về sự lan truyền tính kháng thuốc. Escherichia coli là trực khuẩn Gram âm, hiếu khí và kỵ khí tùy tiện, sở hữu cấu trúc kháng nguyên phức tạp gồm hơn 170 loại kháng nguyên thân O, 80 loại kháng nguyên vỏ K và 56 loại kháng nguyên lông H. Các chủng E. coli gây bệnh đường ruột được chia thành 6 nhóm đặc trưng, điển hình như EPEC gây tiêu chảy trẻ em, ETEC sản sinh độc tố ruột chịu nhiệt ST và độc tố không chịu nhiệt LT, hay EHEC tiết độc tố Shiga gây hội chứng tán huyết ure huyết. Đối với Salmonella, giống vi khuẩn này gồm hai loài S. entericaS. bongori với hơn 3.000 serotype theo phân loại Kauffmann-White. Yếu tố độc lực quyết định khả năng gây bệnh của Salmonella bao gồm nội độc tố Lipopolysaccharide (LPS) tại màng ngoài tế bào, ngoại độc tố ruột Enterotoxin làm rối loạn hấp thu ion natri và bài tiết nước, cùng độc tố tế bào Cytotoxin ức chế tổng hợp protein tế bào ký chủ.

Về cơ chế đề kháng kháng sinh, vi khuẩn biểu hiện tính kháng tự nhiên hoặc kháng thu được thông qua đột biến gen và truyền gen kháng thuốc theo chiều ngang giữa các thế hệ vi khuẩn. Ba con đường truyền gen ngang chủ yếu bao gồm tiếp hợp (conjugation) qua plasmid giới tính, biến nạp (transformation) hấp thu ADN tự do và tải nạp (transduction) qua trung gian thực khuẩn thể bacteriophage. Khi áp lực chọn lọc kháng sinh trong chăn nuôi gia tăng, các chủng vi khuẩn tích lũy gen kháng làm biến đổi cấu trúc protein màng, tổng hợp enzyme bất hoạt thuốc (như beta-lactamase) hoặc kích hoạt hệ thống bơm tống thuốc, khiến các phác đồ điều trị thông thường mất dần hiệu lực sinh học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp thực nghiệm vi sinh vật học chuẩn hóa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 50 quầy sạp kinh doanh thịt lợn tại 7 chợ dân sinh trên địa bàn quận Long Biên để phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc về điều kiện cơ sở vật chất, thói quen vệ sinh và nguồn gốc sản phẩm. Đồng thời, 68 mẫu thịt lợn tươi sống được thu thập ngẫu nhiên vào khung giờ cao điểm từ 7 giờ đến 8 giờ sáng, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử theo tiêu chuẩn TCVN 4833-1:2002 và TCVN 4833-2:2002. Mẫu sau khi thu thập được bảo quản lạnh trong túi PE vô trùng chuyên dụng và chuyển ngay về phòng thí nghiệm trong vòng 2 giờ.

Quy trình phân lập và định lượng vi khuẩn E. coli được thực hiện bằng phương pháp đếm khuẩn lạc màu hồng cánh sen đặc trưng trên đĩa thạch MacConkey sau 24 giờ ủ ấm ở 37°C theo TCVN 4833-2:2002. Việc phát hiện Salmonella tuân thủ quy trình chuẩn quốc tế ISO 6579:2002 (tương đương TCVN 4829:2005) qua 4 bước liên hoàn: tiền tăng sinh trong môi trường nước Peptone đệm (BPW) tỷ lệ 1:9 ở 37°C; tăng sinh chọn lọc song song trong canh thang Rappaport-Vassiliadis Soya Peptone (RV) ở 42°C và Muller-Kauffmann Tetrathionate (MKTTn) ở 37°C; phân lập trên đĩa thạch Brilliant Green Agar (BGA) và Xylose-Lysine-Tergitol 4 (XLT4); khẳng định sinh hóa bằng phản ứng lên men đường trên thạch TSI, thử nghiệm sinh Indol và phản ứng Urea.

Để đánh giá tính mẫn cảm kháng sinh, phương pháp khuếch tán khoanh giấy kháng sinh trên thạch Mueller-Hinton theo nguyên lý Bauer - Kirby (CLSI M100-S24) được lựa chọn nhờ tính chuẩn hóa cao, cho phép thử nghiệm đồng thời 10 loại kháng sinh thuộc nhiều nhóm dược lý trên cùng một chủng vi khuẩn sau khi chuẩn độ đục dịch vi khuẩn đạt 0,5 McFarland. Toàn bộ số liệu thu thập được quản lý và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng tại 50 quầy kinh doanh thịt lợn thuộc 7 chợ trên địa bàn quận Long Biên cho thấy: 92% số quầy đạt quy định về chiều cao bàn bán hàng (≥ 60 cm) theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Tuy nhiên, kết cấu bề mặt quầy còn nhiều điểm yếu về vệ sinh khi có tới 20% quầy dùng mặt bàn gỗ, 60% mặt bàn lát gạch men và chỉ 20% trang bị mặt bàn kim loại không gỉ. Cơ sở hạ tầng bảo quản còn thô sơ với chỉ 50% quầy có tủ bảo quản thực phẩm chuyên dụng; 82% có dụng cụ xua đuổi côn trùng; 90% người bán mang tạp dề và 100% sử dụng nguồn nước máy. Đáng chú ý, chỉ có 66% (33/50 người) người trực tiếp kinh doanh từng tham gia các khóa tập huấn kiến thức an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kết quả kiểm tra vi sinh vật trên 68 mẫu thịt lợn cho thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E. coli đạt 64,71% (44/68 mẫu dương tính). Căn cứ theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm hiện hành, có 21 mẫu (chiếm 30,88%) không đạt tiêu chuẩn về giới hạn vi sinh vật và 47 mẫu (chiếm 69,12%) đạt chuẩn. Đối với Salmonella, tỷ lệ phát hiện là 14,71% (10/68 mẫu dương tính), toàn bộ 10 mẫu này đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh quy định đối với thịt tươi sống.

Tỷ lệ nhiễm và kháng kháng sinh của vi khuẩn từ thịt lợn tại quận Long Biên:
+------------------------+-------------------+--------------------+
| Tiêu chí phân tích     | E. coli (n=68)    | Salmonella (n=68)  |
+------------------------+-------------------+--------------------+
| Tỷ lệ dương tính       | 64,71% (44 mẫu)   | 14,71% (10 mẫu)    |
| Tỷ lệ không đạt TCVS   | 30,88% (21 mẫu)   | 14,71% (10 mẫu)    |
| Tỷ lệ kháng cao nhất   | Tetracycline 71,43%| Ampicillin 50,00%  |
| Kháng bậc hai          | Amoxicillin 66,67%| Amoxicillin 50,00% |
| Kháng đáng báo động    | Colistin 66,67%   | Kháng đa thuốc     |
| Độ nhạy cảm cao nhất   | Gentamycin 71,43% | Gentamycin 80,00%  |
+------------------------+-------------------+--------------------+

Kiểm tra tính mẫn cảm với 10 loại kháng sinh cho thấy các chủng vi khuẩn phân lập thể hiện mức độ kháng thuốc đáng báo động. Các chủng E. coli kháng cao nhất với Tetracycline (71,43%), tiếp theo là Amoxicillin (66,67%), Colistin (66,67%) và Ampicillin (61,90%); trong khi mức độ mẫn cảm cao nhất ghi nhận ở Gentamycin (71,43%), Kanamycin (57,14%) và Doxycycline (57,14%). Đối với các chủng Salmonella, tỷ lệ kháng cao tập trung ở nhóm Penicillin bán tổng hợp gồm Ampicillin (50,00%) và Amoxicillin (50,00%); ngược lại, vi khuẩn còn rất nhạy cảm với Gentamycin (80,00%), Kanamycin (70,00%), Neomycin (70,00%) và Doxycycline (70,00%).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ 30,88% mẫu thịt nhiễm E. coli vượt ngưỡng tiêu chuẩn vệ sinh và 14,71% mẫu nhiễm Salmonella phản ánh tình trạng nhiễm chéo nghiêm trọng trong chuỗi cung ứng. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ khâu giết mổ thủ công, việc rửa thân thịt bằng nguồn nước chung chứa vi khuẩn từ lòng ruột, phương tiện vận chuyển không kín và điều kiện bày bán hở tại chợ dân sinh. Dữ liệu thực nghiệm có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tỷ lệ nhiễm vi sinh và cấu tạo bàn bán hàng, làm nổi bật tác động của việc 20% cơ sở dùng thớt gỗ, bàn gỗ khó tẩy trùng và 50% quầy không có tủ mát bảo quản ở nhiệt độ dưới 10°C, khiến vi sinh vật phân chia theo cấp số nhân trong môi trường nhiệt đới gió mùa.

Khi đối chiếu với các công bố khoa học khác tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm E. coli trong nghiên cứu này tương đồng với kết quả khảo sát trên thịt tươi sống tại thị trường Hà Nội của một nghiên cứu trước đây (64,00%) và tại tỉnh Lâm Đồng (64,44%). Tỷ lệ nhiễm Salmonella (14,71%) nằm trong biên độ dao động được ghi nhận tại các lò mổ nội địa (10,91% - 16,67%) và tại thị trường Thái Nguyên (10,00% - 19,50%), nhưng thấp hơn đáng kể so với mức ô nhiễm tại các cơ sở giết mổ gia cầm nhỏ lẻ ngoại thành Hà Nội (40,60%).

Đặc biệt, việc 66,67% chủng E. coli đề kháng với Colistin là một cảnh báo dịch tễ học khẩn cấp. Colistin là kháng sinh nhóm polypeptide thuộc danh mục thuốc dự phòng cuối cùng trong y tế điều trị các ca nhiễm khuẩn Gram âm đa kháng ở người. Tỷ lệ kháng Colistin và Tetracycline vượt trên 66% chứng minh tập quán lạm dụng kháng sinh phối hợp trong thức ăn chăn nuôi nhằm mục đích kích thích tăng trọng và phòng bệnh đại trà tại các nông hộ. Ngược lại, Gentamycin và Kanamycin thuộc nhóm Aminoglycoside vẫn duy trì hiệu lực ức chế vi khuẩn từ 71,43% đến 80,00% do ít bị sử dụng phổ biến qua đường uống trong chăn nuôi lợn thịt.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu thập được, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

  1. Nâng cấp điều kiện hạ tầng và chuỗi lạnh tại các chợ bán lẻ truyền thống (Target metric: đạt 100% quầy sạp sử dụng mặt bàn inox và trang bị tủ bảo quản chuyên dụng trước quý 4 năm 2021): Ban Quản lý các chợ thuộc quận Long Biên phối hợp cùng chính quyền địa phương triển khai chương trình hỗ trợ tiểu thương thay thế toàn bộ 20% mặt bàn gỗ hiện tại sang chất liệu inox 304 không gỉ, lắp đặt hệ thống tủ kính che chắn bụi bẩn và tủ mát duy trì nhiệt độ bảo quản thịt lợn từ 0°C đến 4°C.
  2. Chuẩn hóa quy trình cấp chứng chỉ và tập huấn an toàn sinh học (Target metric: nâng tỷ lệ người bán hàng có chứng nhận kiến thức an toàn thực phẩm từ 66% lên 100% trong vòng 6 tháng): Trung tâm Y tế quận Long Biên phối hợp với Chi cục Thú y Hà Nội tổ chức các lớp đào tạo định kỳ 6 tháng một lần, hướng dẫn bắt buộc kỹ năng thực hành vệ sinh cá nhân, khử trùng trang thiết bị pha lọc thịt bằng dung dịch sát khuẩn Chloramin B 0,5% và quy tắc chống nhiễm chéo từ phủ tạng sang thân thịt.
  3. Kiểm soát chặt chẽ quy trình giết mổ và truy xuất nguồn gốc động vật (Target metric: giảm tỷ lệ mẫu thịt lợn nhiễm Salmonella xuống dưới 5% sau 12 tháng triển khai): Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố Hà Nội tăng cường thanh tra đột xuất 100% các cơ sở giết mổ cung cấp thịt cho quận Long Biên, kiên quyết đình chỉ các lò mổ thủ công không đáp ứng quy trình treo thân thịt và áp dụng hệ thống tem truy xuất nguồn gốc điện tử QR code trên từng lô thịt xuất xưởng.
  4. Siết chặt quản lý kê đơn thuốc thú y và cấm triệt để việc dùng Colistin trong chăn nuôi (Target metric: giảm tỷ lệ kháng Colistin và Tetracycline của vi khuẩn đường ruột xuống dưới 25% sau 24 tháng): Cục Thú y và Thanh tra Bộ Nông nghiệp ban hành chế tài xử phạt nghiêm khắc hành vi phân phối kháng sinh nguyên liệu, giám sát chặt chẽ dư lượng thuốc tại trang trại chăn nuôi, đồng thời hướng dẫn người chăn nuôi chuyển sang sử dụng các chế phẩm sinh học probiotic và acid hữu cơ thay thế kháng sinh kích thích sinh trưởng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về Thú y và An toàn Thực phẩm: Cán bộ Chi cục Chăn nuôi và Thú y, Cục Quản lý Thị trường và Trung tâm Y tế Dự phòng có thể khai thác bộ dữ liệu thực chứng (30,88% mẫu thịt vi phạm chỉ tiêu vi sinh và 66,67% chủng kháng Colistin) làm căn cứ xây dựng kế hoạch kiểm tra liên ngành, thiết lập bản đồ dịch tễ nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật tại các chợ bán lẻ đô thị.
  • Các nhà nghiên cứu, Giảng viên và Học viên ngành Thú y - Y tế Công cộng: Đề tài cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân lập vi khuẩn đường ruột theo ISO/TCVN, kỹ thuật kháng sinh đồ Bauer - Kirby theo tiêu chuẩn CLSI M100-S24, phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế đề kháng kháng sinh và mối liên hệ di truyền giữa chủng vi khuẩn ở động vật và người.
  • Bác sĩ thú y thực hành và Doanh nghiệp sản xuất chăn nuôi: Các trang trại và kỹ thuật viên thú y có cơ sở khoa học để tái cấu trúc phác đồ phòng trị bệnh tiêu chảy và phó thương hàn trên đàn lợn; chấm dứt việc sử dụng không hiệu quả các hoạt chất bị kháng cao như Tetracycline (71,43%) và Ampicillin (61,90%), đồng thời ưu tiên các liệu trình có định hướng dựa trên kháng sinh đồ mẫn cảm.
  • Ban Quản lý chợ truyền thống và Người tiêu dùng thông thái: Ban Quản lý có cơ sở dữ liệu định lượng để rà soát quy hoạch quầy sạp; người tiêu dùng được trang bị kiến thức nhận diện các nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật, từ đó hình thành thói quen lựa chọn thịt tại các cơ sở có tủ mát bảo quản đạt chuẩn và luôn tuân thủ nguyên tắc chế biến nhiệt chín hoàn toàn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ mẫu thịt lợn không đạt tiêu chuẩn vệ sinh vi sinh vật tại quận Long Biên lên tới 30,88%?

Tỷ lệ 30,88% mẫu thịt không đạt chuẩn vi sinh vật xuất phát từ việc chuỗi cung ứng thịt tươi sống còn phụ thuộc vào giết mổ thủ công và khâu bày bán chưa đảm bảo. Khảo sát ghi nhận 50% quầy sạp không có tủ mát bảo quản, 20% sử dụng bàn gỗ xốp dễ tích tụ vi khuẩn và 34% người bán chưa qua đào tạo an toàn thực phẩm, khiến thịt bị nhiễm chéo vi khuẩn từ môi trường và phân gia súc.

Vi khuẩn Salmonella phân lập từ các mẫu thịt lợn gây ra những nguy cơ sức khỏe nào?

Nghiên cứu phát hiện 14,71% mẫu thịt nhiễm Salmonella, loại trực khuẩn có khả năng tiết nội độc tố LPS và độc tố ruột gây ngộ độc cấp tính. Khi ăn phải thịt chưa nấu chín kỹ, người tiêu dùng có nguy cơ bị viêm ruột cấp tính, sốt cao, tiêu chảy mất nước nghiêm trọng. Đáng ngại hơn, 50% chủng phân lập kháng Ampicillin và Amoxicillin, làm tăng nguy cơ thất bại điều trị lâm sàng.

Ý nghĩa cảnh báo của việc phát hiện chủng E. coli kháng Colistin lên tới 66,67% là gì?

Colistin là kháng sinh polypeptide dự phòng cuối cùng trong phác đồ điều trị các ca nhiễm khuẩn huyết đe dọa tính mạng do vi khuẩn Gram âm đa kháng ở người. Tỷ lệ 66,67% chủng E. coli từ thịt lợn kháng Colistin cho thấy gen kháng thuốc (như gen mcr) đã lan rộng trong hệ vi sinh vật vật nuôi, tiềm ẩn nguy cơ truyền ngang sang vi khuẩn ký sinh ở người qua tiếp xúc thực phẩm.

Những loại kháng sinh nào duy trì hiệu lực ức chế cao nhất đối với vi khuẩn trong nghiên cứu?

Kết quả kháng sinh đồ 10 hoạt chất chỉ ra Gentamycin có hiệu lực mạnh nhất với tỷ lệ mẫn cảm đạt 71,43% ở E. coli và 80,00% ở Salmonella. Kế tiếp là Kanamycin và Doxycycline với tỷ lệ nhạy cảm từ 57,14% đến 70,00%. Các nhóm này ít bị lạm dụng bổ sung vào thức ăn chăn nuôi nên vi khuẩn chưa hình thành cơ chế đề kháng phổ biến.

Quy trình thử nghiệm kháng sinh đồ theo phương pháp Bauer - Kirby được vận hành thế nào?

Phương pháp Bauer - Kirby sử dụng đĩa giấy tẩm kháng sinh chuẩn (như Gentamycin 10µg, Tetracycline 30µg) đặt lên mặt thạch Mueller-Hinton đã trải đều huyền phù vi khuẩn đạt mật độ 0,5 McFarland. Sau 18 đến 24 giờ nuôi ủ ở 37°C, đường kính vòng ức chế vô khuẩn xung quanh khoanh giấy được đo bằng milimet và đối chiếu bảng chuẩn CLSI M100-S24 để phân loại mức độ Kháng, Trung gian hoặc Mẫn cảm.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã xác lập bức tranh toàn diện về hiện trạng vệ sinh thịt lợn tại 7 chợ thuộc quận Long Biên: 92% quầy đạt độ cao chuẩn nhưng vẫn còn 20% bàn gỗ, 50% thiếu tủ bảo quản lạnh và 34% người bán chưa qua đào tạo an toàn thực phẩm.
  2. Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trên 68 mẫu thịt lợn ở mức cao đáng lo ngại: 64,71% mẫu dương tính với E. coli (trong đó 30,88% không đạt tiêu chuẩn vệ sinh) và 14,71% mẫu dương tính với Salmonella (100% mẫu dương tính đều vi phạm quy chuẩn an toàn).
  3. Hiện trạng kháng kháng sinh diễn biến phức tạp: E. coli đề kháng rất cao với Tetracycline (71,43%), Amoxicillin (66,67%), Colistin (66,67%); Salmonella kháng 50,00% với nhóm Penicillin bán tổng hợp.
  4. Nhóm kháng sinh Aminoglycoside (Gentamycin, Kanamycin) và Doxycycline vẫn giữ được hiệu lực ức chế sinh học cao đối với cả hai loại vi khuẩn với tỷ lệ mẫn cảm từ 57,14% đến 80,00%.
  5. Đóng góp cốt lõi của luận văn là cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học chính xác, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự lạm dụng Colistin trong chăn nuôi và nguy cơ lan truyền gen kháng thuốc qua chuỗi thực phẩm đô thị.

Trong giai đoạn 12 tháng tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương mở rộng chương trình giám sát sinh học phân tử nhằm phát hiện các gen kháng thuốc điển hình (mcr-1, blaCTX-M) trên toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm Hà Nội. Các cấp quản lý, tiểu thương và người tiêu dùng hãy cùng chung tay hành động theo thông điệp Một Sức khỏe: kiên quyết nói không với thực phẩm không rõ nguồn gốc, loại bỏ thói quen lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi và thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc ăn chín uống sôi để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.