Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là trung tâm sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước với gần 20 triệu dân sinh sống, sở hữu hơn 4 triệu ha đất canh tác lúa (chiếm hơn 54% diện tích lúa toàn quốc). Vùng đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản, 70% trái cây và chiếm tới 95% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển bền vững của khu vực đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là hiện tượng xâm nhập mặn với ngưỡng nồng độ mặn từ 4‰ lấn sâu vào nội đồng.

Mùa khô năm 2019 - 2020 ghi nhận đợt hạn mặn lịch sử vượt mức kỷ lục năm 2016, đạt mức độ cảnh báo rủi ro thiên tai cấp 2, gây thiệt hại hơn 66.000 ha diện tích nông nghiệp và làm gián đoạn nguồn nước sinh hoạt của khoảng 96.000 hộ dân tại 10/13 tỉnh thành. Đứng trước tình hình đó, hệ thống truyền hình địa phương đóng vai trò xung kích trong việc cung cấp thông tin, định hướng dư luận và phổ biến giải pháp ứng phó cho cộng đồng.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận báo chí truyền hình, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng thông tin về xâm nhập mặn trên sóng truyền hình địa phương ĐBSCL, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 đài truyền hình tiêu biểu cho các vùng sinh thái chịu ảnh hưởng nặng nề gồm Đài Phát thanh - Truyền hình (PT-TH) Vĩnh Long, Đài PT-TH Kiên Giang và Đài PT-TH Bến Tre trong khung thời gian 6 tháng từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn thông qua việc lượng hóa 571 tác phẩm truyền hình về hạn mặn trên tổng số 6.323 tác phẩm phát sóng (chiếm 9,0%), cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chiến lược truyền thông rủi ro thiên tai vùng Tây Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Truyền thông đại chúng kết hợp Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-Setting Theory) và Lý thuyết Truyền thông biến đổi khí hậu nhằm làm sáng tỏ cơ chế tác động của báo chí nghe - nhìn đối với nhận thức xã hội. Mô hình nghiên cứu phân tích truyền hình như một công cụ truyền thông phức hợp tương tác đa chiều, vận hành thông qua các đặc trưng cốt lõi: tính thời sự nhanh nhạy, độ xác thực cao, tính phổ cập diện rộng, cùng sự tích hợp giữa ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh hiện trường.

Khung khái niệm trọng tâm bao gồm:

  • Truyền hình địa phương: Loại hình báo chí chuyển tải thông điệp qua hình ảnh động, đồ họa và âm thanh đa tầng, giữ vai trò cơ quan ngôn luận của cấp ủy, chính quyền và diễn đàn của nhân dân tỉnh.
  • Xâm nhập mặn: Hiện tượng nước mặn với nồng độ từ 4‰ trở lên lấn sâu vào sông ngòi và nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc sụt giảm dòng chảy thượng nguồn.
  • Công cụ và tiêu chí truyền hình: Hệ thống thể loại (tin, phóng sự, chuyên đề) và bộ chuẩn đánh giá chất lượng gồm tính chính xác, tính toàn diện về nội dung, tính logic của cấu trúc hình ảnh và lời bình.

Cơ sở pháp lý của đề tài dựa trên Điều 3 Luật Báo chí 2016, Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, cùng Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 22/01/2020 và Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 31/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát tổng phổ (total population sampling) đối với toàn bộ 6.323 tác phẩm phát sóng trong các chương trình thời sự và chuyên đề môi trường - nông thôn của 3 đài truyền hình THVL, THKG, THBT từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020. Toàn bộ 571 tác phẩm liên quan đến xâm nhập mặn được thu thập và phân tích chi tiết nhằm loại bỏ sai số chọn mẫu.

Hệ thống phương pháp xử lý dữ liệu gồm:

  • Phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis): Phân loại 571 tác phẩm thành 3 nhóm định tính (Nhóm 1 nhắc thoáng qua dưới 10 giây chiếm 13,1%; Nhóm 2 phản ánh trực tiếp diễn biến chiếm 11,6%; Nhóm 3 phản ánh tác động và giải pháp liên quan chiếm 75,3%).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn lãnh đạo các đài PT-TH, nhà báo chuyên trách, chuyên gia nông nghiệp và khán giả thực tế tại địa phương.
  • Phương pháp phân tích tài liệu và khảo sát thực tế: Đánh giá văn bản chỉ đạo điều hành và quy trình tác nghiệp hiện trường.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm kết hợp định lượng thống kê chính xác mật độ phát sóng với đánh giá định tính chuyên sâu về thủ pháp báo chí.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng 571 tác phẩm truyền hình về xâm nhập mặn chỉ ra các phát hiện nổi bật sau:

  • Sự phân bố tần suất không đồng đều: Đài PT-TH Bến Tre chiếm tỷ trọng áp đảo với 400 tác phẩm (chiếm 70,0% tổng lượng tin bài), trong khi Đài PT-TH Vĩnh Long phát sóng 91 tác phẩm (15,9%) và Đài PT-TH Kiên Giang thực hiện 80 tác phẩm (14,1%). Tần suất thông tin tập trung cao điểm vào các tháng 2, 3 và 4 năm 2020 với 400 tác phẩm (chiếm 70,0% lượng phát sóng toàn kỳ).
  • Cơ cấu nội dung nghiêng mạnh về giải pháp ứng phó: Nhóm nội dung giải pháp chiếm tới 450 tác phẩm (78,8%), tiếp đến là hậu quả với 67 tác phẩm (11,7%), diễn biến mặn với 66 tác phẩm (11,6%), nguyên nhân với 36 tác phẩm (6,3%) và chỉ đạo điều hành chỉ có 13 tác phẩm (2,3%).
  • Phân hóa chi tiết các nhóm giải pháp: Trong 450 tác phẩm về giải pháp, nhóm hỗ trợ và hợp tác cộng đồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 147 tác phẩm (32,6%); giải pháp khoa học công nghệ đạt 89 tác phẩm (19,8%); tuyên truyền giáo dục đạt 65 tác phẩm (14,4%); tài chính đạt 62 tác phẩm (13,8%); chính sách xã hội đạt 58 tác phẩm (12,9%); và giải pháp người dân tự thích ứng chỉ chiếm 29 tác phẩm (6,4%).
  • Tương quan thể loại báo chí: Thể loại tin ngắn chiếm tỷ lệ chủ đạo với 404 tác phẩm (70,8%), riêng tin trong bản tin thời sự chiếm 98,5% lượng tin; trong khi thể loại phóng sự chuyên sâu chỉ đạt 141 tác phẩm (29,2%).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát được tổng hợp trực quan qua các biểu đồ so sánh cơ cấu nội dung và bảng thống kê thể loại. Kết quả cho thấy Đài PT-TH Bến Tre phản ánh đậm nét nhất do địa phương này là tâm điểm hứng chịu đợt mặn khốc liệt với ranh mặn 4‰ xâm nhập sâu từ 55 đến 68 km trên các nhánh sông Hàm Luông, Cổ Chiên. Việc các đài tập trung vào thể loại tin thời sự ngắn (70,8%) đáp ứng yêu cầu nhanh nhạy, cập nhật số liệu nồng độ mặn hàng ngày cho bà con nông dân.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra một số khoảng trống truyền thông đáng chú ý:

  1. Thiếu vắng thông tin chỉ đạo cấp vĩ mô: Toàn bộ 13 tác phẩm chỉ đạo (100%) đều phản ánh văn bản của chính quyền cấp tỉnh và sở ban ngành địa phương, hoàn toàn vắng bóng các thông tin phổ biến Chỉ thị số 04/CT-TTg hay Chỉ thị số 36/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  2. Khuynh hướng phản ánh hậu quả ngắn hạn: 100% tác phẩm đề cập thiệt hại kinh tế chỉ nhìn nhận ở mùa vụ hiện tại năm 2020, thiếu vắng các dự báo tác động dài hạn từ 5 đến 10 năm về thoái hóa đất và sinh kế tương lai.
  3. Phân tích nguyên nhân chưa cân xứng: Yếu tố khí tượng chiếm tới 47,2% nội dung phản ánh nguyên nhân, trong khi tác động từ việc vận hành các đập thủy điện thượng nguồn sông Mê Kông chỉ chiếm 13,9%.

So sánh với các nghiên cứu truyền thông biến đổi khí hậu trên sóng truyền hình quốc gia giai đoạn 2015 - 2016, truyền hình địa phương ĐBSCL năm 2020 đã gia tăng đáng kể thời lượng hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp thực tế, nhưng vẫn cần mở rộng các phóng sự phản biện chính sách chuyên sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về xâm nhập mặn:

  • Tái cấu trúc tỷ trọng thể loại báo chí: Ban Giám đốc các Đài PT-TH Vĩnh Long, Bến Tre và Kiên Giang cần chỉ đạo nâng tỷ lệ phóng sự điều tra và chuyên đề phân tích sâu từ mức 29,2% hiện nay lên tối thiểu 40% trong tổng số tác phẩm môi trường vào giai đoạn 2022 - 2024, giảm bớt sự phụ thuộc vào các bản tin phản ánh thuần túy.
  • Tăng cường phổ biến chính sách vĩ mô và dự báo chiến lược: Đội ngũ biên tập viên phòng Thời sự cần chủ động lồng ghép các chỉ đạo của Chính phủ và bộ ngành Trung ương, nâng tỷ lệ phản ánh chính sách lên mức 15 - 20% trong các bản tin chỉ đạo; đồng thời xây dựng các chuỗi phóng sự dự báo biến đổi nguồn nước theo chu kỳ 5 năm và 10 năm tới.
  • Thúc đẩy mô hình tự lực thích ứng và chuyển giao công nghệ: Các phòng chuyên đề nông nghiệp cần ưu tiên phát sóng các mô hình sáng tạo của nông dân (như hệ thống lọc nước thẩm thấu ngược RO, tưới nhỏ giọt, chuyển đổi cơ cấu tôm - lúa), nâng tỷ trọng nhóm giải pháp tự thích ứng từ 6,4% lên mức trên 20% trước mùa khô năm 2023.
  • Đẩy mạnh chuyển đổi số và phân phối đa nền tảng: Lãnh đạo các đài truyền hình địa phương cần xây dựng chuyên trang số trên Facebook, YouTube và ứng dụng OTT nhằm cắt nhỏ các đoạn tin cảnh báo mặn phát trực tiếp đến điện thoại thông minh của nông dân, đặt mục tiêu tăng 50% mức độ tiếp cận của khán giả trẻ nông thôn trong giai đoạn 2022 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Lãnh đạo và Ban Biên tập các Đài PT-TH khu vực ĐBSCL: Sử dụng nguồn số liệu 571 tác phẩm khảo sát làm căn cứ chuẩn hóa khung giờ phát sóng, định hướng kịch bản chuyên đề hạn mặn thích ứng với từng tiểu vùng sinh thái.
  • Phóng viên, biên tập viên chuyên trách môi trường - nông nghiệp: Nắm bắt bộ tiêu chí chuẩn hóa về hình ảnh, lời bình, tiếng động hiện trường và cách tiếp cận 6 nhóm giải pháp thực tiễn khi tác nghiệp tại vùng thiên tai.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở TT&TT, Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL): Tham khảo dữ liệu phản hồi từ người dân để tối ưu hóa công tác phát ngôn, điều phối thông tin cảnh báo rủi ro thiên tai liên tỉnh theo Chỉ thị số 04/CT-TTg.
  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu báo chí truyền thông: Tiếp cận phương pháp phân tích nội dung truyền hình định lượng kết hợp định tính làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu truyền thông biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn khảo sát dữ liệu trong khoảng thời gian nào và quy mô mẫu ra sao?
Luận văn tiến hành khảo sát tổng phổ toàn bộ 6.323 tác phẩm truyền hình phát sóng từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2020 tại 3 đài PT-TH Vĩnh Long, Kiên Giang và Bến Tre. Từ đó, tác giả trích xuất và phân tích toàn diện 571 tác phẩm có nội dung về xâm nhập mặn (chiếm tỷ lệ 9,0%), với mật độ phát sóng cao nhất đạt 70,0% vào các tháng 2 đến tháng 4 năm 2020.

Đài truyền hình địa phương nào có số lượng tác phẩm về hạn mặn nhiều nhất?
Đài PT-TH Bến Tre dẫn đầu vượt trội với 400 tác phẩm (chiếm 70,0% tổng lượng tác phẩm khảo sát), vượt xa Đài PT-TH Vĩnh Long với 91 tác phẩm (15,9%) và Đài PT-TH Kiên Giang với 80 tác phẩm (14,1%). Điều này phù hợp với thực tế Bến Tre là địa phương chịu ảnh hưởng thiên tai nghiêm trọng nhất trong mùa khô năm 2020.

Thể loại báo chí truyền hình nào chiếm ưu thế tuyệt đối trong diện khảo sát?
Thể loại tin thời sự ngắn chiếm ưu thế áp đảo với 404 tác phẩm (70,8%), riêng lượng tin trong các bản tin thời sự chiếm tới 98,5%. Trong khi đó, thể loại phóng sự chuyên sâu chỉ ghi nhận 141 tác phẩm (29,2%), phản ánh ưu tiên cập nhật tính thời sự tức thời nhưng còn hạn chế ở các chương trình phân tích dài hơi.

Hạn chế lớn nhất trong nội dung truyền thông về hạn mặn của các đài là gì?
Hạn chế lớn nhất là 100% tác phẩm về hậu quả chỉ nhìn nhận tổn thất ngắn hạn trước mắt trong năm 2020, thiếu vắng các dự báo dài hạn 5 - 10 năm. Đồng thời, 100% thông tin chỉ đạo xuất phát từ cấp chính quyền địa phương, hoàn toàn thiếu vắng việc truyền thông trực tiếp các văn bản chỉ đạo chiến lược của Thủ tướng Chính phủ.

Nhóm giải pháp ứng phó hạn mặn nào được đề cập nhiều nhất trên sóng?
Nhóm giải pháp liên quan đến hỗ trợ và hợp tác cộng đồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 147 tác phẩm (32,6%), tiếp đến là giải pháp khoa học công nghệ với 89 tác phẩm (19,8%). Ngược lại, nhóm giải pháp người dân tự nỗ lực thích ứng chiếm tỷ lệ thấp nhất với chỉ 29 tác phẩm (6,4%).

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa toàn diện 571 tác phẩm truyền hình về hạn mặn trên tổng số 6.323 tác phẩm phát sóng tại 3 tỉnh tiêu biểu vùng ĐBSCL trong 6 tháng đầu năm 2020.
  • Xác định Đài PT-TH Bến Tre dẫn đầu với 400 tác phẩm (70,0%), tập trung cao độ vào giai đoạn tháng 2 đến tháng 4 năm 2020.
  • Chỉ ra sự vượt trội của thể loại tin thời sự (70,8%) so với phóng sự chuyên sâu (29,2%) và ưu thế của nhóm giải pháp hỗ trợ cộng đồng (32,6%).
  • Nhận diện rõ hai khoảng trống truyền thông lớn: vắng bóng thông tin chỉ đạo cấp Chính phủ và thiếu hụt các dự báo rủi ro sinh kế dài hạn từ 5 đến 10 năm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp tái cấu trúc thể loại, chuyển đổi số và nâng cao năng lực thích ứng cho người dân giai đoạn 2022 - 2025.

Công trình của học viên Lê Văn Hải (2021) là tài liệu học thuật giá trị, đóng góp khung tham chiếu khoa học vững chắc cho ngành báo chí truyền hình. Các cơ quan quản lý báo chí và đài truyền hình địa phương cần tham khảo và ứng dụng ngay các khuyến nghị trên nhằm nâng cao năng lực ứng phó thiên tai, bảo đảm sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân Đồng bằng sông Cửu Long.