Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC NÂNG CAO CHAT LƯỢNG TIN, PHONG SỰ NGAN, CHUYÊN DE TRUYEN HÌNH VE XÂM NHẬP MAN Ở ĐBSCL 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài - Báo chí Theo Từ điển Tiếng Việt: “Báo chí là cách gọi tắt của các loại hình báo chí như: báo viết, báo hình, báo nói, báo ảnh, các bản tin, .” Theo Điều 3 Luật Báo chí 2016: “Báo chí là sản pham thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bang chữ viết, hình anh, âm thanh, được sang tao, xuất ban định ky và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình bao in, báo nói, báo hình, báo điện tử”. Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sông thực tiễn [6, tr. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xin đưa ra quan điểm của mình về báo chí như sau: Báo chi là phương tiện truyền thông đại chúng, truyền tải thông tin về các sự kiện, vấn đê trong đời sống xã hội một cách khách quan, chân thực; thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh; được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử nhằm tích cực hóa đời sống.
Ké từ khi ra đời vào cuối thé ky XIX dau thế kỷ XX cho đến nay, truyền hình đã trở thành một phương tiện nghe - nhìn phổ biến hàng đầu trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, xem truyền hình đã trở thành nhu cầu giải trí, thông tin thiết yếu của người dân. Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa”, còn “videre” là “thay được”, tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa.
Ghép hai từ đó lại “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa” [33,tr. 17 Trong cuốn “Phóng sự truyền hình”, các tác giả Brigitte Besse va Didier Desormeaux đưa ra định nghĩa: “Truyền hình đó là hình ảnh, trước hết là hình ảnh. Đó là thế mạnh của nó và cũng là cái thu hút những lời phê phán tệ hại nhất (phê phán nó hời hợt). Thế nhưng nếu không có hình ảnh, truyền hình liệu sẽ trở thành một cái gì khác, không còn là truyền hình nữa.
Làm thông tin ở truyền hình là cho xem.Truyền hình là lời nói: Truyền hình, đó cũng là lời nói, những từ ngữ, một nội dung. Làm thông tin trên truyền hình cũng là nói. Và nói tức là mô tả bằng cách trả lời những câu hỏi: Ai? Khi nao? Ở đâu? Cái gì? Tại sao?” [44, tr. Trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, tác giả Tạ Ngọc Tan đưa ra cái nhìn bao quát, mạch lạc và rõ rang hon về khái niệm truyền hình: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyên tải nội dung thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh.
Thực chất cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh. Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với đặc trưng kỹ thuật riêng của mình” [28, tr. Có thê thấy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình được các tác giả trong nước và quốc tế đưa ra. Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu đó, tác giả luận văn có quan điểm riêng của mình về khái niệm truyền hình như sau: Truyền hình là một loại hình báo chí chuyển tải nội dung thông tin bằng hình ảnh (hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, đồ họa, bảng biểu.) và âm thanh tổng hợp (lời nói, tiếng động, âm nhạc, lời bình).
Các yếu tô này tác động đồng thời vào hai giác quan của công chúng là thính giác và thị giác. Nhờ thé, công chúng có thé nhận thức rõ ràng, chính xác, sinh động, khách quan hơn về các vấn dé và sự kiện trong cuộc sống. Truyền hình là một loại hình thông tin đại chúng truyền tải thông tin bằng sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh động và âm thanh, tạo ra khả năng chuyển tải các nội dung thông tin vô cùng phong phú, hấp dẫn và có hiệu quả bằng phương tiện truyền thông truyền hình. 39] Báo truyền hình có những đặc trưng như: Tỉnh thời sự: Là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại nhất, truyền hình có khả năng cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn các loại 18 hình báo chí khác.
Sự kiện có thê được truyền hình phản ánh ngay khi đang diễn ra thông qua cau truyền hình hoặc truyền hình trực tiếp. Độ tin cậy và chính xác cao: Truyền hình sử dụng cả ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh dé “lột tả” hiện thực. Một tác phẩm truyền hình khi đã phát sóng cũng khó “thu hồi”, đính chính hay sửa chữa. Vì thế, tác phẩm truyền hình luôn phải trải qua quá trình kiểm duyệt khắt khe.
Và báo truyền hình được đánh giá là loại hình báo chí có độ tin cậy cao nhất. Tính phổ cập: Với sự phát triển của công nghệ truyền dẫn phát sóng, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng, phục vụ được đối tượng khán giả đa dạng ở khắp trong và ngoài nước. Truyền hình có thé thâm nhập đến bat kỳ vùng miền hay ngõ ngách nào. Phạm vi tác động rộng rãi của truyền hình không chỉ thể hiện trên phương diện kỹ thuật mà còn thé hiện ở đặc tính nội dung ngôn ngữ.
Bat kỳ một người nào ở những hệ thống ngôn ngữ khác nhau khi xem hình ảnh truyền hình đều có thé hiểu dù ít hay nhiều nội dung tác phẩm. 17] Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh: Các tác phâm truyền hình tác động đến người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh, lời bình, đôi khi có cả chữ viết. Hình ảnh với khả năng phản ánh hiện thực sông động, chi tiết, chính xác, chân thực là lợi thế lớn nhất của truyền hình. Đây là lý do báo truyền hình luôn được đánh giá cao về tính chính xác và độ tin cậy cũng như khả năng tác động đến nhận thức và hành động của khan giả.
Kha năng tác động dư luận xã hội mạnh mé và trở thành diễn đàn của nhân dan: Trong những năm gan đây, các Đài truyền hình và Dai PT - TH đã chú trọng việc tạo ra kênh phân phối mới để tiếp cận khá giả chủ động và nhanh chóng hơn. Và phát triển nội dung số, phân phối nội dung trên môi trường internet đang trở thành xu hướng của truyền hình hiện đại. Việc này giúp công chúng tiếp cận với các tác pham, chương trình truyền hình mọi lúc, mọi nơi, không giới hạn thời gian va không gian. Tính tương tác trên các nội dung được đăng tải trên Facebook, Zalo, YouTube, ứng dụng.giúp truyền hình ngày càng đến gần hơn với khán giả.
Số hóa nội dung giúp truyền hình tăng khả năng tương tác với khán giả. 19 Khả năng thuyết phục công chúng: Với tất cả những đặc trưng như tính thời sự cao; truyền tải thông tin bang nhiều ngôn ngữ; khả năng tác động mạnh mé.truyén hình rõ ràng có khả năng thuyết phục công chúng cao hơn các loại hình báo chí khác. Từ những đặc trưng trên có thé thấy truyền hình có lợi thé hơn han so với các loại hình báo chí khác trong việc cung cấp thông tin nói chung và các thông tin liên quan đến van dé BĐKH hay xâm nhập mặn nói riêng. - Xâm nhập mặn: Theo định nghĩa được đưa ra bởi Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn băng 4%o xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt.
Xâm nhập mặn được gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, và cũng có không ít yếu tổ ảnh hưởng đến xâm nhập mặn như: Sự dịch chuyên bề mặt phân cách giữa vùng nước ngọt và vùng nước mặn; biến đôi khí hậu (dẫn đến những biến đôi về lượng mưa, nhiệt độ, lượng nước bốc hơi, độ âm của đất.); các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng quỹ đất, quan lý đất; xâm nhập mặn từ biển vào các sông tiếp giáp cửa biển vào mùa khô; địa hình khu vực. - Công cụ: Theo Từ điển Tiếng Việt, “công cụ là cái được dùng dé tiến hành một việc nao đó, hoặc để đạt đến một mục đích nào đó”. Trong lĩnh vực báo chí, công cụ truyền thông (communication tool) là những cách thức cụ thé được sử dụng truyền tai thông điệp từ chủ thé đến đối tượng nhận thông điệp nhằm thực hiện mục tiêu truyền thông. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, các tác phẩm, chương trình truyền hình được coi là công cụ dé người lam báo phan ánh các vấn đề liên quan đến xâm nhập mặn; thực hiện chức năng tuyên truyền chủ trương, đường lối liên quan đến xâm nhập mặn cũng như chức năng phản biện xã hội hay giáo dục về xâm nhập mặn.
Và đối với một tác phẩm hay chương trình truyền hình, công cụ ở đây chính là hệ thống các thé loại; các yếu tố cấu thành lên một tác phẩm truyền hình (hình ảnh; âm thanh; lời bình; âm nhạc; đồ họa. 2) - Tiêu chí đánh giá: 20 Tiêu chí là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ dé nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm. Đánh giá có nghĩa nhận định giá trị. Vậy tiêu chí đánh giá là những dấu hiệu, tính chất được sử dụng làm căn cứ để xếp loại hoặc nhận định giá trị của một sự vật, sự việc, khái niệm.
Trong phạm vi đề tài, tác giả đã phải sử dụng những tiêu chí đánh giá một tác phẩm, chương trình truyền hình chất lượng dé đánh giá và xếp loại theo mức độ hiệu quả trong truyền thông về xâm nhập mặn. Dé từ đó, tác giả rút ra kết luận về thành công, hạn chế và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về xâm nhập mặn trên sóng truyền hình địa phương. Đối với nội dung, tiêu chí gồm: e Nội dung tập trung phản ánh một đề tài cụ thé, không lan man, gần gũi với công chúng xem truyền hình. e Nội dung phản ánh về xâm nhập mặn cần toàn diện trên nhiều khía cạnh: thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, chỉ đạo của Chính phủ và các cấp chính quyền.